Kỹ thuật nông nghiệp

  • CÀO CÀO LÚA - Rice field grasshopper

    Tên khoa học: Oxya spp
    Họ :Acrididae
    Bộ :Orthoptera
    Phân bố và ký chủ

    Gây hại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là châu Á, Nhật Bản, Ấn Độ, Malaisya, Indonexia, Pakistan, Việt Nam.

    Cào cào thuộc loài đa thực, phá hại nhiều loại cây trồng. Kí chủ chính: cây lương thực (lúa, bắp, mía).

    Đặc điểm hình thái:

    Cào cào trưởng thành dài 40 – 45mm (con đực nhỏ hơn con cái) có màu xanh vàng hoặc nâu, râu hình sợi chỉ, 2 bên đỉnh đầu về phía mắt kép có 2 vệt sọc màu nâu kéo dài suốt 3 đốt ngực. Mảnh lưng của đốt bụng đặc biệt con cái có dạng gai, trứng đẻ dưới đất hơi cong ở giữa 1 đầu to, trứng luôn đẻ ở dạng túi.

  • BÙ LẠCH (BỌ TRĨ) - Rice Thrips

    Tên khoa học: Baliothips bijomio
    Bộ :Thripidae
    Họ :Thysanoptera

    Phân bố và ký chủ

    Xuất hiện ở các nước : Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản …

    Ngoài cây lúa, còn tấn công nhiều cây trồng khác (bắp, mía, thuốc lá, cây họ đậu ).

    Đặc điểm hình thái:

    Trưởng thành: nhỏ, dài 1-2 mm có màu đen, râu đầu dài, chiếm 1/3 thân, 2 đuôi cánh hẹp, cánh trước ở phần giữa thắt lại. Trưởng thành đẻ trứng rãi rác trong mô lá.

  • SÂU PHAO - Rice case bearer

    Tên khoa học: Nymphata depunctalis
    Họ :Pyralidae
    Bộ :Lepidoptera

    Phân bố và ký chủ

    Xuất hiện ở châu Phi, Á, Nam Mỹ

    Ký chủ: lúa, cỏ.

    Đặc điểm hình thái:

    Ngài nhỏ, mỏng manh, màu trắng tuyết với những đốm vàng nâu nhạt ở cả 2 cánh.

  • RẦY NÂU - Brown backed rice plant hopper

    Tên khoa học: Nivaparvata lugens
    Họ :Delphasidae
    Bộ :Homoptera

    Phân bố và ký chủ

    Xuất hiện ở các nước trồng lúa châu Á, có khí hậu nhiệt đới: Ấn Độ, Thái Lan…

    Ký chủ: lúa, lúa hoang, cỏ lồng vực, cỏ gối.

    Đặc điểm hình thái:

    Trưởng thành màu nâu có 2 dạng cánh: cánh dài phủ kín bụng và cánh ngắn khoảng 2/3 thân.

  • BỆNH TIÊM ĐỌT SẦN - Brown left spot of rice

    Tên khoa học: Helminthosporiumoryzae
    Họ : Deuteromycetes
    Phân bố và tác hại:

    Gây hại trên những cây lúa sinh trưởng kém, mất cân đối, phát triển mạnh trên đất chua, đất cát giữ nước kém, đất sét cày nong, trên ruộng nghèo dinh dưỡng, thiếu đạm và kali.

    Hại từ giai đoạn mạ đến thu hoạch làm cho cây bị vàng lá, đẻ bông ít, lép dễ bị mốc khi bảo quản

    Triệu chứng:

    Hại trên hạt lá, hạt, đôi khi hại ở mầm mạ, trên thân cây lúa trưởng thành.

    Vết bệnh ban đầu nhỏ như ổ kim, màu nâu nhạt về sau phát triển thành hình bầu dục nhỏ, hơi tròn có màu nâu đậm ở cả 2 mặt của vết bệnh, xung quanh có đường viền vàng. Khi bệnh nặng các vết bệnh liên kết lại với nhau tạo thành vệt lớn màu xám.

  • BỆNH LÙN XOẮN LÁ

    Phân bố và tác hại:

    Bệnh mới, nhưng có tác hại lớn.

    Bệnh làm cho chiều cao cây, bề dày của lá giảm nhiều, không hình thành được đòng, trổ bông. Nếu có, trổ bông lép. Bông bị bệnh ngắn, ít hạt, tỉ lệ lép cao, năng suất giảm từ 48 - 82% (tuỳ thuộc vào giống).
    Triệu chứng:

    - Cây lùn nhiều ít tuỳ theo thời điểm nhiễm bệnh, nếu nhiễm sớm cây lúa thấp hơn một nửa.

    - Lá lúa ngắn, dày, xanh đậm, xoắn vặn hoặc nhăn nheo, rách bìa, có nhiều đốm nâu nhỏ.

    - Thân dày, cứng thường đâm chồi và rễ ở những đốt trên.

    - Bông bị nghẹn, xoắn vặn hạt có nhiều đốm nâu, lép lửng.

  • CHÁY BÌA LÁ - Rice leaf blight

    Tên khoa học: Xanthomonas oryzae





    Phân bố và tác hại:

    Xuất hiện ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn độ, Thái Lan, Việt Nam.

    Mức độ hại tuỳ thuộc vào giống. Hại từ lúc đẻ nhánh đến chín. Nặng nhất ở giai đoạn đẻ nhánh.

    Hại ở trên lá đòng làm lá sớm tàn, nhanh chóng bị chết khô, ảnh hưởng quang hợp, tích luỹ chất khô => năng suất giảm.

  • BỆNH ĐẠO ÔN - Rice blast disease

    BỆNH ĐẠO ÔN - Rice blast disease
    Tên khoa học:Nấm Pyricularia oryzae


    Họ:Moniliaceae
    Bộ:Hyphates
    Lớp:Deuteromycetes

    Phân bố và tác hại:

    Phổ biến rất nhiều ở những nơi trồng lúa nước: Nhật Bản, Việt Nam …

    Bệnh xuất hiện quanh năm ở khí hậu khác nhau. Làm thiệt hại từ 10 – 15% năng suất.

  • Những kiến thức căn bản về thuốc BVTV















  • Sâu hại chồi ở cây xoài và cây điều

    Vườn xoài và điều cao sản đã trồng được 4 năm nhưng hiện nay bị sâu hại rất nặng. Khi bẻ nhánh những cây chết thấy có sâu nằm trong thân, tỷ lệ cây bị sâu gần 70% vườn trồng. Theo mô tả thì vườn xoài và điều đang bị một số loại sâu đục chồi và sâu đục cành gây hại nặng.

    Sâu đục cành non xoài (Chlumetia transversa và Alcicoides sp.): Chúng thuộc bộ cánh phấn. Thành trùng là con ngài nhỏ có sải cánh 1,75cm. Con cái đẻ trứng trên lá. Sâu non khi mới nở ra thì đục ngay vào lá, sau đó chúng đục thẳng vào đầu các ngọn non, chùm hoa, ăn rỗng phía trong làm cho chồi non, cành hoa bị héo đi hoặc gãy đổ.

  • Phòng trị bệnh than hại mía

    Bệnh than hại mía do nấm Ustilago scitamines H.Sydow gây ra. Bệnh làm đen thân cây mía thường xảy ra ở các vườn mía rậm rạp, độ ẩm cao, bào tử nấm dễ phát sinh và các loài kiến tha bào tử đi làm lây lan...

    Cách phòng trị: chủ yếu phòng bệnh là chính. Nên trồng giống mía kháng bệnh cao, thăm vườn thường xuyên, phát hiện cây mía nào bệnh thì nhổ bỏ xa vườn, rẫy mía bị hại nặng, không để lưu gốc. Nên luân canh vào ba vụ các cây họ đậu hay cây họ khác họ mía. Không lấy lại giống ở các ruộng mía đã bị bệnh. Xử lý hom trước khi trồng bằng Tilt 250ND với nồng độ 0,2‰, ngâm 5 phút vớt ra.

  • Nuôi cấy thực vật theo phương pháp thủy canh

    Công nghệ thủy canh (hydroponics) hiện được dùng rộng rãi ở nhiều nước để trồng rau, hoa không cần đất. Một phần rễ được để ngập trong dung dịch dinh dưỡng khoáng có thành phần thích hợp. Phần rễ bên trên có thể đảm nhận vai trò hô hấp và trao đổi khí. Các bộ phận phía trên không khí (thân lá) đuợc bảo vệ cách ly với môi trường bên ngoài với các tấm mỏng bằng chất dẻo hoặc lưới.


    Trong công nghệ thủy canh, vấn đề khó khăn nhất là tạo một dung dịch dinh dưỡng ổn định về nồng độ các chất dinh dưỡng và pH. Muốn vậy phải thực hiện theo hai cách: hoặc thay đổi môi trường liên tục hoặc thêm các thành phần có khả năng đệm cao để ổn định pH. Hướng thứ nhất được thực hiện nhiều ở Singapore và Hà Lan, bằng cách để bộ rễ tiếp xúc với một lớp mỏng dịch dinh dưỡng. Lớp mỏng này luôn luôn đuợc tạo thành dòng chảy bằng hệ thống bơm, lọc và điều chỉnh pH tự động. Vì vậy còn có tên gọi là công nghệ màng dinh dưỡng (Nutrient Film Technology – NFT).

Copyright © 2009 NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM AGRICULTURE WEBSITE (Online: 1621 | 110)
Agriviet.Com với mục tiêu Góp phần vào sự phát triển chung của nền nông nghiệp Việt Nam do Nhà nước khởi xướng và khuyến khích.
ĐT: (08) 35.515.665 - FAX: (08) 35.515.668 - Di động: 0948 10.10.10 - email: mth@Agriviet.com