-
Ứng dụng chế phẩm Enchoice trong nuôi tôm
ENCHOICE là hợp chất đa men (Multi-Enzyme), được chiết xuất từ quá trình lên men lạnh các chất hữu cơ theo công nghệ sinh học tiên tiến của Hoa Kỳ. Sản phẩm không chứa hoá chất độc hại, tự phân huỷ sinh học, an toàn cho người, động- thực vật và hệ sinh thái, đặc biệt rất thân thiện với môi trường.
-
Quản lý chất thải trong ao nuôi
Ðiều kiện nền đáy ao nuôi tôm có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nước ao nuôi tôm như Oxy hoà tan, độ trong của nước, sự phát triển của tảo, sự tạo ra các khí độc, sự phát triển của các loại vi khuẩn gây bệnh,v.v. Ðáy ao tốt hay xấu phụ thuộc vào chất đất và sự lắng tụ chất thải trong quá trình nuôi tôm mà đặc biệt là chất thải hữu cơ.
-
Nuôi tôm theo quy trình vi sinh: Đầu tư thấp, hiệu quả cao
Thị xã Bạc Liêu là một trong những địa phương có diện tích nuôi tôm lớn nhất tỉnh. Từ 887ha năm 2001, đến nay đã mở rộng lên 5.600ha. Con tôm đã giúp nhiều hộ nghèo đổi đời, vươn lên khá giả. Tuy nhiên, lựa chọn quy trình nuôi thế nào để vừa gìn giữ môi trường, vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế không phải là điều đơn giản.
-
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG KỸ THUẬT NUÔI TÔM SÚ
/ LỰA CHỌN HÌNH THỨC NUÔI:
1.1 Các hình thức nuôi tôm sú hiện nay:
-
Khai thác vận chuyển tôm hùm giống
1/ Khai thác bằng lưới Ngư cụ khai thác là lưới trủ:
+ Mắt lưới có kích cỡ 5mm (2a =5mm).
+ Kích thước lưới phụ thuộc vào quy mô khai thác
+ Ðộ dài lưới dao động khoảng 100 - 150m, độ cao 4 - 6m.
+ Các hoạt động khai thác được tiến hành vào ban đêm .
+Sử dụng ánh sáng đèn neon có cường độ khoảng 1000 - 2000W.
-
Kỹ thuật ương nuôi nâng cấp Tôm Hùm Giống (Panulirus ornatus)
Hiện nay, tôm hùm là một loại hải đặc sản đã và đang được chú trọng trong nuôi trồng Thủy sản, là đối tượng có giá trị xuất khẩu cao. Trên thế giới tôm HÙM PHÂN BỐ TỪ VÙNG BIỂN Ấn Ðộ đến tây Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, tôm hùm phân bố từ Quảng Bình đến Bình Thuận và có 7 loài thuộc giống Panulirus được xếp theo thứ tự giá trị kinh tế như sau: Loài tôm hùm bông P. ornatus (Fabricius, 1789) Loài tôm hùm Ðá P. homarus (Linnaeus, 1758) Loài tôm hùm Sỏi P. stimpsoni (Holthuis, 1763) Loài tôm hùm Ðỏ P. longipes (Edwards, 1868) Loài tôm hùm Ma P. penicilatus (Olivier, 1791) Loài tôm hùm Sen P. vesicolor (Latraille, 1804) Loài tôm hùm Bùn P. poliphagus (Herbst, 1793) Hiện nay, tôm hùm chưa sinh sản nhân tạo được, con giống nuôi hoàn toàn dựa vào tự nhiên . Ðể giải quyết việc con giống ngày càng khan hiếm trong khi chưa tạo được tôm hùm giống bằng con đường sinh sản nhân tạo thì việc ương nâng cấp tôm hùm giống từ tôm trắng , trắng hồng , tôm đen lên tôm giống cỡ lớn (100g/con trở lên) nhằm tăng khả năng sống tự nhiên của tôm hùm đã và đang được nhiều địa phương quan tâm thực hiện.
-
Phòng trị bệnh phấn trắng ở tôm sú
Tôm sú nuôi, nhất là nuôi thâm canh bằng thức ăn công nghiệp thường hay phát sinh rất nhiều loại bệnh, nhiều hộ chăn nuôi bị thua lỗ chủ yếu do bệnh làm chết tôm. Những tác nhân gây bệnh thường gặp ở tôm sú là do yếu tố môi trường, do chế độ dinh dưỡng, do vi khuẩn, nguy hiểm nhất là vi rút và hiện nay là bệnh phấn trắng. Bệnh này hay phát sinh nhỏ lẻ ở một số ao, đôi khi gây thành dịch và đã gây chết số lượng tôm khá lớn ở một số nơi.
-
Kỹ thuật nuôi ghép trong quản lý ao nuôi tôm sú
NUÔI SẠCH và HIỆU QUẢ là chỉ tiêu hàng đầu mà mọi người từ cơ quan chức năng đến người tiêu thụ cũng như người nuôi trồng thuỷ sản cũng đều quan tâm, nhất là các nước nhập cãng như Mỹ, Âu Châu, Nhật, Đài Loan ...V...V... , nếu sản phẩm không sạch, sẽ bị họ trã về, sự thất thu kim ngạch mà cã nước phải gánh, chứ không phải riêng những nhà doanh nghiệp thu mua hay là người nuôi trồng thuỷ sản, sự mất lòng tin cũa các nhà nhập cãng sẽ là một sự thiệt hại lớn lao cho nền kinh tế quốc gia cũng như thu nhập cũa người nuôi trồng.
-
Phòng và trị bệnh cho tôm hùm
Gần đây, tôm hùm nuôi ở huyện Sông Cầu (Phú Yên) và các tỉnh miền Trung bị chết do dịch bệnh có chiều hướng gia tăng. Theo yêu cầu của bạn đọc, Báo Ninh Thuận giới thiệu biện pháp phòng và trị một số bệnh thường gặp ở tôm hùm.
-
Trước 1 vụ tôm đầy bất trắc, giảm rủi ro bằng cách nào ?
Khảo sát dịch bệnh tôm ở các tỉnh ĐBSCL, Trung tâm quan trắc Quốc gia cảnh báo: Đợt dịch tôm chết ở Sóc Trăng, Bạc Liêu vừa qua chiếm 20-30% diện tích nuôi. Nguyên nhân chủ yếu là do nông dân nuôi tôm trái vụ vào thời điểm lạnh nhất trong năm ở ĐBSCL (tức từ tháng 12 đến đầu tháng 1 hàng năm), nhiệt độ trong ao khoảng 250C (trong khi nhiệt độ thích hợp từ 28-300C) nên làm tôm bị sốc, bỏ ăn. Riêng vùng mới chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm, do thả tôm sớm, trong khi độ mặn chưa đạt yêu cầu làm tôm bị sốc, chết.
-
Bệnh phát sáng (Luminous Bacteria Disease)
Triệu chứng bệnh:
Tôm chết đáy tuỳ vào mức độ nặng nhẹ của bệnh. Tôm bị bệnh sẽ bơi không định hướng, bơi không bình thường và vào bờ. Mang và thân tôm có màu xẫm, dơ, bắp thịt đục màu, gan teo lại và nhỏ dần. Ăn giảm, không có tức ăn trong đường ruột, phân tôm trong đường ruột, phân tôm trong nhá ít Tôm phản ứng chậm đầu tôm có phát sáng do phát sáng của V. harveji trong gan nhờ hoạt động của chất tiết ra từ men Luciferrase, nhìn trong tối sẽ thấy thân tôm phát sáng.