• Axit hữu cơ trong thức ăn cá

    Thảo luận trong 'Tin nông nghiệp' , 11/11/10

    1. Guest Guest

      Bổ sung axit hữu cơ trong thức ăn chăn nuôi được coi là một trong những biện pháp hiệu quả để phòng bệnh, thúc đẩy tăng trưởng và giảm tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) của động vật nuôi khi kháng sinh được loại bỏ khỏi khẩu phần.


      Axit hữu cơ đã được sử dụng phổ biến để bổ sung vào thức ăn của lợn hay gà, tuy nhiên sử dụng axit hữu cơ để bổ sung vào thức ăn thủy sản thì mới được áp dụng gần đây. Thực ra các kỹ thuật lên men chua tự nhiên để sản sinh axit hữu cơ (axit lactic) trong bảo quản tôm, cá đã được áp dụng từ thời cổ xưa. Vài chục năm gần đây, axit hữu cơ như axit formic cũng đã được áp dụng trong kỹ thuật ủ ướp cá hay phụ phẩm của cá, các sản phẩm cá ủ ướp đã được đánh giá là nguồn thức ăn thủy sản có giá trị dinh dưỡng cao.


      [​IMG]


      Tuy nhiên đưa trực tiếp axit hữu cơ hoặc muối của axit hữu cơ vào thức ăn thủy sản, đặc biệt thức ăn công nghiệp thì còn là kỹ thuật hoàn toàn mới. Các axit hữu cơ hoặc muối của axit hữu cơ bổ sung vào thức ăn thủy sản thường bao gồm axit lactic và sodium lactate, axit acetic và sodium acetate, axit propionic và sodium propionate, axit formic và sodium formate hay potassium diformate…


      Một kết quả nghiên cứu sử dụng potassium diformate bổ sung vào thức ăn nuôi cá rô phi trong 85 ngày ở Indonesia cho thấy sodium diformate trộn vào thức ăn theo tỷ lệ 0,2% (2 kg/1 tấn) đã giúp cá ăn nhiều thức ăn hơn, tăng trưởng nhanh hơn và có FCR thấp hơn so với nhóm đối chứng ăn khẩu phần không bổ sung axit hữu cơ (tăng trưởng cao hơn 20% và FCR giảm thấp hơn 8%).


       Đặc biệt khi cá được cho nhiễm vi khuẩn Vibrio anguillarum (vi khuẩn gây bệnh xuất huyết, đốm đỏ, lở loét, vây bị ăn mòn) ở mức 105 CFU/ngày trong 20 ngày thì tỷ lệ chết của cá là 20,8% ở nhóm bổ sung sodium diformate, còn ở nhóm đối chứng cá có tỷ lệ chết tới 33%. Hàm lượng potassium diformate càng cao thì tỷ lệ chết càng giảm (hàm lượng potassium diformate là 0,3% và 0,5% thì tỷ lệ chết của cá là 18,4% và 11%, lần lượt) (dẫn theo Christian Luckstadt, 2009).


      Một nghiên cứu khác thực hiện trên cá rô phi lai (Oreochromis niloticus x Oreochromis aureus) ở giai đoạn cá hương (trọng lượng cá đầu thí nghiệm là 2,7g) trong 56 ngày đã thấy cá ăn khẩu phần chứa 0,3% potassium diformate đã cho tăng trưởng cao hơn 11,6% so với cá ăn khẩu phần đối chứng không bổ sung axit hữu cơ.


      Tăng trưởng của cá ăn khẩu phần thức ăn chứa potassium diformate khi so với cá ăn khẩu phần chứa kháng sinh flavomycin (8 mg/kg thức ăn) nhưng không chứa potassium diformate cũng cao hơn. Như vậy khả năng axit hữu cơ thay được kháng sinh trong khẩu phần cá rô phi được xác nhận giống như sự xác nhận khả năng này trên lợn hay gà.


      Những thí nghiệm thực hiện trên loài cá Arctic char (Salvelinus alpinus) với khẩu phần bổ sung 1% sodium lactate đã cho thể trọng từ 310g tăng lên 630g trong 84 ngày, trong khi cá ăn khẩu phần đối chứng chỉ cho thể trọng 520g trong cùng thời gian thí nghiệm. Các nhà khoa học đã nhận thấy rằng cá tra khi nuôi bằng thức ăn công nghiệp với liều lượng cao thường thải ra phân lỏng (dấu hiệu của rối loạn tiêu hóa do vi khuẩn), tuy nhiên nếu những thức ăn này được bổ sung sodium lactate thì cá không bị bệnh nữa.


       Với các thí nghiệm trên cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) ở giai đoạn cá hương, người ta cũng thấy tăng trưởng và FCR của cá được cải thiện rõ rệt khi nuôi bằng thức ăn được bổ sung từ 1,0 - 1,5% muối của axit formic hay của axit succinic. Thức ăn bổ sung muối của các axit hữu cơ này cũng thấy có khả năng thay thế kháng sinh flavomycin.


      Vai trò ngăn ngừa bệnh, kích thích tăng trưởng và cải thiện hiệu suất lợi dụng thức ăn của axit hữu cơ hay muối của nó trong thức ăn cá được giải thích như sau:


      Bao Nong Nghiep Viet Nam
       
      Last edited by a moderator: 9/3/14
      Đang tải...

    Chia sẻ trang này

    Đang tải...
    Đang tải...