• Dismiss Notice

    bán củ địa liền làn thuốc

    Thảo luận trong 'MuaBán ngành Lâm Nghiệp' , 16/2/13

    1. ngusang65 Nhà nông nghiệp dư

      Địa liền
      [​IMG]Còn gọi là sơn nại, tam nại, thiền liền, sa khương, faux galanga,
      Tên khoa học Kaempferia galanga L.,( Kaempferia rotunda Rild.).
      Thuộc họ gừng Zingiberaceae.
      Sơn nại (Rhizoma Kaempferiae) là thân rễ thái mỏng phơi khô của cây địa liền.
      Tên địa liền vì là mọc sát mặt đất.
      A. Mô tả cây
      Địa liền là một loại cỏ nhỏ, sống lâu năm, có thân rễ hình củ nhỏ, bám vào nhau, hình trứng. Lá 2 hoặc 3 mọc sát mặt đất, hình trứng, cuối lá hẹp lại thành một cuống dài độ 1-2cm, mặt trên xanh lục và nhẵn, mặt dưới có lông mịn, có hai mặt đều có những điểm nhỏ, dài rộng gần bằng nhau, chừng 8 đến 15cm. Cụm hoa mọc ở giữa, không cuống, gồm 8 đến 10 hoa màu trắng với những điểm tím ở giữa. Cây quanh năm xanh tốt. Mùa hoa tháng 8 tháng 9
      B. Phân bố, thu hái và chế biến
      Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi trong cả nước. Cây còn mọc ở Cămpuchia, Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Đài loan), Malaixia, Ấn Độ.
      Từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, người ta đào củ về, cần chọn những cây đã trên hai năm, rửa sạch đất cát, thái thành miếng mỏng, xông diêm sinh một ngày rồi đem phơi khô. Tuyệt đối không sấy than củ sẽ đen, mùi kém thơm. Có nơi chỉ đào củ về, rửa sạch phơi khô. Địa liền rất dễ bảo quản, hầu như không bị mốc mọt mặc dầu điều kiện bảo quản không hơn so với các vị thuốc khác.
      C. Thành phần hoá học
      Trong địa liền có tinh dầu, trong tinh dầu thành phần chủ yếu là bocneola metyl, metyl p.cumaric axitetyl este, xinamic axit etyl este, pentadecan C[SUB]15[/SUB]H[SUB]32[/SUB] xinamic andehyt và xineola.
      D. Công dụng và liều dùng
      Địa liền còn dùng trong phạm vi nhân dân. Theo tài liệu cổ địa liền vị cay, tính ôn, vào hai kinh tỳ và vị. Có tác dụng ôn trung tán hàn, trừ thấp, tịch (tránh) uế. Chữa ngực bụng lạnh đau, đau răng. Thường được dùng làm thuốc giúp sự tiêu hoá, làm cho ăn ngon, chóng tiêu, và còn làm thuốc xông. Ngâm rượu làm thuốc bóp chữa tê phù, tê thấp nhức đâu, đau nhưc.
      Ngày dùng 2 đến 4g dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột, thuốc viên hay pha như pha chè mà uống. Còn dùng tròn kỹ nghệ cất tinh dầu chế nước hoa và bảo vệ quần áo chống nhậy.
      Đơn thuốc có địa liền
      Địa liền 2g, quế chi 1g. Hai vị tán nhỏ chia làm 3 lần uống trong một ngày, mỗi lần 0,5 hay 1g bột. Dùng chữa ăn uống không tiêu, đau dạ dầy, đau thần kinh.

      [​IMG] Trở về
      Các bài viết khác
      dt 0948335995
       
      Đang tải...

    Chia sẻ trang này

    Đang tải...
    Đang tải...