Bệnh nấm thủy mi trên cá lóc giống

calocgiong

Bán vịt trời
#1
Giới thiệu:

Cá lóc (Channa striata) là đối tượng được nuôi phổ biến và quan trọng đang phát triển mạnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Đây là loài cá dễ nuôi, mau lớn, thịt ngon và là nguồn dinh dưỡng tốt cho con người. Với hình thức nuôi đa dạng và phù hợp cho quy mô hộ gia đình góp phần tăng thu nhập cho nông hộ. Tuy nhiên, hiện nay tình hình bệnh xảy ra thường xuyên làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người nuôi. Các loại bệnh thường gặp trên cá lóc được ghi nhận là do các tác nhân ký sinh trùng, vi nấm và vi khuẩn. Trong đó, sự nhiễm nấm thủy mi thường xảy ra ở cá lóc giai đoạn giống hoặc tháng nuôi đầu tiên ở nuôi thương phẩm.


Hình 1: Cá lóc giống khỏe (mũi tên) và cá bị nhiễm nấm thủy mi (mũi tên).



Dấu hiệu bệnh nấm thủy mi trên cá lóc giống:



Cá lóc giai đoạn giống nhiễm nấm có dấu hiệu bệnh lý lở loét phần đuôi và có những búi màu trắng trông giống như bông gòn tua tủa trên thân cá, phần gốc của sợi nấm bám vào cơ cá phần còn lại lơ lửng trong nước (Hình 1B). Quan sát mẫu tiêu bản tươi (mẫu bệnh phẩm) cho thấy nhiều sợi nấm bậc thấp, không có vách ngăn ngang (Hình 2).



Đặc điểm hình thái nấm thủy mi (Achlya sp.):



Dựa vào đặc điểm hình dạng, tốc độ phát triển của khuẩn lạc và đặc điểm của sợi nấm, sự hình thành túi bào tử, hình dạng động bào tử và quá trình phóng thích động bào tử xác định được nấm thủy mi nhiễm trên cá lóc giai đoạn giống là nấm Achlya sp.



Hình 2: Đặc điểm hình thái của nấm Achlya sp.: (A) Khuẩn lạc chủng trên môi trường GYA ở 28oC sau 4 ngày nuôi cấy; (B) Sự hình thành túi bào tử (mũi tên); (C) Túi bào tử già và động bào tử hình cầu (mũi tên); (D) Động bào tử được phóng thích và tập trung ở đầu mút (mũi tên); (E) Động bào tử nảy mầm và hình thành sợi nấm mới (mũi tên); (F) Túi bào tử sau khi động bào tử được phóng thích. Hình B, C, D, E và F quan sát ở độ phóng đại x200.



Yếu tố nguy cơ gây ra bệnh:



Bệnh thường phát sinh khi chất lượng nước trong ao nuôi giảm, tích tụ hữu cơ nhiều, mật độ nuôi cao, phương pháp quản lý ao nuôi chưa tốt nhất là những khi nhiệt độ nước trong ao nuôithấp hoặc thời tiết thay đổi (giao mùa hoặc trở lạnh). Đặc biệt bệnh nấm thủy mi thường xảy ra ở giai đoạn cá giống hoặc giai đoạn tháng đầu nuôi thương phẩm.



Phương pháp phòng bệnh:



Phòng bệnh luôn là giải pháp hiệu quả cho sự thành công trong nuôi thâm canh cá lóc. Việc sử dụng thức ăn tự chế với thành phần cá tạp là chính đã tác động tiêu cực đến môi trường ao nuôi đặc biệt là các yếu tố thủy lý hóa cũng như phát sinh các mầm bệnh trong ao nuôi. Một số giải pháp cần được thực hiện như:

- Chuẩn bị ao nuôi kỹ, sên vét bùn, xử lý đáy ao bằng vôi 10 kg/100 m2.

- Mật độ thả nuôi không quá dầy.

- Đảm bảo thành phần dinh dưỡng trong thức ăn nuôi cá lóc, nên chọn thức ăn công nghiệp phù hợp và chất lượng để nuôi cá lóc.

- Tạt vôi định kỳ với liều lượng 3 kg/100 m3, đặc biệt ở những tháng cuối vụ nuôi.

- Định kỳ diệt mầm bệnh bằng thuốc tím, Iodinetheo hướng dẫn nhà sản xuất được ghi trên nhãn thuốc,tạt đều ao.



Phương pháp trị bệnh:

- Hạn chế tối đa bệnh phát sinh bằng kết hợp xử lý môi trường nuôi và tăng sức đề kháng cho cá nuôi bằng cách bổ sung vitamin C.

- Thuốc tím với liều lượng 10 g/m3 tắm cho cá trong thời gian 30-60 phút, hoặc theo hướng dẫn nhà sản xuất.

- Formol với liều lượng 20 ml/m3 tắm trong thời gian 30-60 phút và trị liên tục 3-5 ngày, lưu ý không được trị quá liều hoặc không thực hiện điều trị lúc trời quá nóng.

- Bronopol với liều lượng được khuyến cáo của nhà sản xuất.


(trích dẫn nguồn từ UV-Việt Nam.)

Xem chi tiết tại: http://calocgiong.com/ky-thuat-san-xuat-giong-ca-loc/56-benh-nam-thuy-mi-tren-ca-loc-giong.html
 

#2
Cho hỏi vai đieu nha ''Calocgiong"
-cá giống bao nhiêu kg,
-1kg duoc bao nhiêu con, kich thươt cá ra sao
-Để có 1kg ca thit cần bao nhieu thức ăn
-Mât độ nuôi bao nhiêu phu hợp (bể lót bạt)
-Diên tích nuôi bao nhiêu tốt nhất
-Tỉ lệ hao hụt ra sao
-Nuôi bằng thúc an công nghiep hay ca tươi tốt hơn
-Cá đạt trọng lương bao nhiêu nên bán, tại sao?
Mong đươc giúp đỡ,
 
L

Le thanh vinh

Guest
#3
Cho hỏi vai đieu nha ''Calocgiong"
-cá giống bao nhiêu kg,
-1kg duoc bao nhiêu con, kich thươt cá ra sao
-Để có 1kg ca thit cần bao nhieu thức ăn
-Mât độ nuôi bao nhiêu phu hợp (bể lót bạt)
-Diên tích nuôi bao nhiêu tốt nhất
-Tỉ lệ hao hụt ra sao
-Nuôi bằng thúc an công nghiep hay ca tươi tốt hơn
-Cá đạt trọng lương bao nhiêu nên bán, tại sao?
Mong đươc giúp đỡ,
1

KỸ THUẬT NUÔI CÁ LÓC NHÍM TRONG BỂ XI MĂNG

1. Một số loài cá lóc phổ biến và đặc điểm sinh học của cá lóc

1.1. Một số loài cá lóc phổ biến ở Việt Nam

* Cá lóc đen (cá tràu)

- Mô tả: Cơ thể hình lăng trụ, đầu dẹp, đuôi tròn.

Lưng và hai bên hông sậm màu với những đốm

đen và màu gạch, bụng màu trắng; đầu to như

đầu rắn, gãy khúc, miệng có đủ răng, vảy rất lớn.

- Sinh học: Sống ở miền nhiệt đới, trong môi

trường nước ngọt và nước lợ, ở tầng giữa. Độ

pH: 7.0 – 8.0; độ cứng: 20; nhiệt độ: 23 – 27 °C.

Thức ăn bao gồm cá, ếch nhái, rắn, côn trùng,

giun đất, nòng nọc và động vật giáp xác. Di cư từ

sông Mekong vào các vùng nước xung quanh, xâm nhập vào vùng ngập lũ theo

mùa và trở về nơi cư trú khi mùa khô đến. Cá sống sót qua mùa khô bằng cách tự

chôn mình vào bùn ở đáy hồ, kênh và đầm lầy để giữ ẩm cho phổi và tiêu thụ

chất béo dự trữ trong cơ thể.

- Nơi sống và sinh thái: cư trú ở ao hồ, các nhánh sông vừa và nhỏ, suối, vùng

ngập lũ và các con kênh chảy chậm; ưa thích các cánh đồng nước đục và có bùn;

sống trong đầm lầy và các con sông miền đồng bằng. Thường xuất hiện ở độ sâu

1-2 m, nước tĩnh.

- Phân bố: Việt Nam: cả ba miền; Thế giới: trải dài từ Pakistan đến miền nam

Trung Quốc.

* Cá chuối (cá quả)

- Sinh học: sống ở miền

nhiệt đới, trong môi

trường nước ngọt, ở tầng

giữa. Thức ăn gồm động

vật giáp xác, côn trùng cỡ

lớn, ếch nhái và cá.

- Nơi sống và sinh thái:

Cư trú nơi có đáy bùn và

thực vật nổi ở sông hay hồ.

- Phân bố: Việt Nam: miền Bắc, lưu vực sông Hồng; Thế giới: miền Nam Trung

Quốc. Loài này cũng du nhập vào Đài Loan, Nhật Bản và Philippin.

* Cá lóc bông

- Mô tả: Cá trưởng thành có một sọc to và đậm dọc theo thân, cá non có hai sọc

màu cam dọc theo thân.

Cá lóc đen

Cá chuối 2

- Sinh học: sống ở miền

nhiệt đới, trong môi

trường nước ngọt, ở tầng

giữa, nhiệt độ thích hợp:

25-28 °C. Thức ăn chủ

yếu là cá, đôi khi ăn cả

động vật giáp xác.

- Nơi sống và sinh thái: cư trú ở vùng trũng và đầm lầy; sống ở vùng nước sâu;

trong các dòng chảy và kênh lớn nước tĩnh hay chảy chậm.

- Phân bố: Việt Nam: đồng bằng sông Cửu Long; Thế giới: Thái Lan, Lào,

Campuchia, Malaysia và Indonesia.

* Cá lóc môi trề

- Đây là loài chưa được

mô tả và đặt tên chính

thức. Tuy nhiên, cá lóc

môi trề được nuôi rất

phổ biến ở những vùng

ngập lũ như An Giang

và Đồng Tháp. Cá lóc

môi trề có bề ngoài

tương tự như cá lóc đen nhưng đuôi có màu phớt xanh, đặc biệt môi dưới trề ra,

đặc điểm này lộ rõ ở những cá thể trưởng

thành.

* Cá lóc nhím

- Là con lai giữa cá lóc môi trề và cá lóc

đen, đây là loài cá được nuôi phổ biến và

được ưa chuộng trên thị trường.

1.2. Đặc điểm sinh học của cá lóc

* Phân bố và tập tính sống

- Ngoài tự nhiên cá lóc phân bố ở nhiều loại thủy vực nước ngọt, lợ. Chúng có

mặt ở sông, kênh rạch, ao, đầm lầy, ruộng, đìa… Cá thích sống nơi có thực vật

thủy sinh (rong, cỏ, bèo…) để thuận lợi cho việc rình và bắt mồi.

- Cá có thể sống trong cả môi trường nước ngọt và lợ (8 -12‰), độ pH thích hợp

6.3 -7.5, nhiệt độ phù hợp cho tăng trưởng của cá 25-30oC. Cá thường trú ẩn

trong lùm cây cỏ.

- Đặc biệt, nhờ vào cấu tạo thích nghi của cơ quan hô hấp, sự phát triển của cơ

quan hô hấp phụ trên mang, ngoài việc sử dụng oxy có trong nước, cá còn có khả

năng lấy oxy trực tiếp từ ngoài không khí (khí trời).

Cá lóc bông

Cá lóc môi trề

Cá lóc nhím 3

- Cá có thể sống trong môi trường chật hẹp, trong điều kiện nước dơ bẩn, nước

tù, thiếu oxy. Đây cũng là ưu thế để phát triển các mô hình nuôi thâm canh trong

ao, vèo và bể bạt...

* Đặc điểm dinh dưỡng

- Cá mới nở sử dụng dinh dưỡng từ khối noãn hoàng trong 3 ngày. Từ ngày thứ 4

- 5, khi noãn hoàng đã hết, cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài là các loài động vật

phù du kích cỡ nhỏ vừa với cỡ miệng chúng (luân trùng, trứng nước) hay lòng đỏ

trứng. 5-7 ngày sau cá có thể ăn trùn chỉ hay thức ăn tổng hợp dạng bột.

- Khi cá lóc đạt chiều dài khoảng 5 - 6 cm thì có thể rượt bắt các loại cá, tép con

có kích cỡ nhỏ hơn. Khi cá có chiều dài trên 10cm thì khả năng rình bắt mồi rất

tốt và có tính ăn như cá trưởng thành.

- Cá lóc là động vật ăn thịt, có tập tính rình bắt mồi. Trong điều kiện nuôi, cá

quen dần với việc ăn thức ăn tĩnh, cá ăn được nhiều loại thức ăn: cá biển, phụ phế

phẩm của nhà máy chế biến, phế phẩm từ lò mổ gia súc, gia cầm và thức ăn viên

tổng hợp.

* Đặc điểm sinh trưởng

- Giai đoạn nhỏ, cá tăng chủ yếu về chiều dài. Cá càng lớn thì sự tăng trọng càng

nhanh.

- Trong tự nhiên, sức lớn của cá không đều, phụ thuộc vào thức ăn sẵn có trong

thủy vực, do vậy tỉ lệ sống trong tự nhiên của cá thấp.

- Trong ao nuôi, có thức ăn đầy đủ và chăm sóc tốt thì tỉ lệ sống của cá cao và đạt

trọng lượng trung bình 0,5 - 0,8 kg/con sau 6 - 8 tháng (cá lóc đen và lóc bông);

0,6-0,7kg/con sau 3,5 - 4 tháng (cá lóc môi trề và đầu nhím).

2. Chọn địa điểm và xây dựng bể nuôi

2.1. Chọn địa điểm nuôi

- Đảm bảo nguồn nước tốt, cấp thoát nước một cách chủ động. Có thể sử hoặc

nước ao hồ, sông để nuôi cá, nếu sử dụng nguồn nước ngầm thì tốt nhất nên có bể

lọc.

- Bể nuôi nên xây gần nhà để tiện trong việc chăm sóc và quản lý và bảo vệ.

- Chọn những vùng đất ít bị ảnh hưởng của lũ lụt.

2.2. Xây dựng bể nuôi

- Diện tích bể nuôi từ 10 – 100 m2 tùy theo

điều kiện từng gia đình.

- Nếu bể nuôi có diện tích lớn thì nên ngăn ra

thành các bể nhỏ để tiện chăm sóc và có thể

tách riêng cá theo từng cỡ để nuôi khi cá

phân đàn.

Bể nuôi cá 4

- Bể nuôi có độ sâu từ 1 – 1,5 m. Có thể xây bể nổi hoặc bể chìm. Xây bể chìm

thì bể sẽ chắc chắn hơn và nhiệt độ nước trong bể nuôi ổn định hơn so với bể nổi

hoàn toàn trên mặt đất. Tuy nhiên chỉ xây bể chìm khoảng 1/2 - 1/3 chiều cao

của bể, nếu xây chìm quá thì sẽ khó thoát nước và bể nuôi dễ bị ngập khi xảy ra

mưa lụt.

- Đáy bể nên nghiêng về cống thoát nước để có thể thoát nước được dễ dàng. Đặt

ống thoát nước kết hợp luôn với chống tràn để chống ngập nước khi có mưa lớn.

- Xung quanh bể rào lại bằng lưới hoặc phên tre đan để cá lóc ngăn cá lóc nhảy ra

ngoài và tránh bị ngập lụt vào mùa mưa lũ.

- Ao nuôi có thể sử dụng mái che hoặc dùng lưới che để giảm nắng giảm nhiệt độ

nước ao nuôi vào mùa nắng.

3. Xử lý bể trước khi nuôi

- Đối với bể mới xây:

+ Dùng phèn chua hoặc dùng thân

chuối chát xắt nhỏ cho nước vào đầy

bể xi măng và tiến hành ngâm bể từ 7

– 10 ngày để làm sạch xi măng mới.

+ Xả nước ngâm ra và cho nước sạch

vào để rửa sạch bể rồi ngâm tiếp bể

bằng nước sạch.

+ Xả nước và rửa lại bể sau đó cho

nước mới vào, bón vôi để ổn định pH,

đo các yếu tố môi trường nếu phù hợp

thì tiến hành thả cá.

+ Tốt nhất đối với bể mới xây nên tiến hành thả cá để thử nước. Sau 3 ngày nếu

cá thả thử nước vẫn sống tốt thì tiến hành thả giống.

- Đối với bể cũ:

+ Chỉ cần ngâm bể bằng nước sạch 2 – 3 ngày rồi tiến hành chùi rửa sạch sẽ cho

nước vào.

+ Bón vôi để ổn định và nâng cao pH, tiến hành đo các yếu tố môi trường nếu

phù hợp thì tiến hành thả giống.

4. Lựa chọn và thả giống

4.1. Lựa chọn con giống

- Ngoại hình cá cân đối, vây, vẩy đầy đủ, không xây xát, màu sắc tươi sáng, bơi

lội nhanh nhẹn, không có dấu hiệu nhiễm bệnh.

Xử lý ao bằng cách ngâm chuối 5

- Kích cỡ cá thả: Nên thả cá giống đồng cỡ để tránh thả hiện tượng phân đàn,

cạnh tranh thức ăn và ăn thịt lẫn nhau. Để hạn chế tỉ lệ hao hụt, người mới nuôi

nên thả cá có cỡ khoảng 8 - 10cm.

4.2. Thả cá giống

- Mật độ thả tùy theo trình độ nuôi

của từng gia đình, kích cỡ cá thả,

khả năng cung cấp thức ăn v.v....

Tuy nhiên mật độ thả không quá 50

con/m2. Mật độ thả thích hợp từ 10

– 25 con/m2.

- Nên thả cá giống vào lúc sáng

sớm, hoặc chiều mát. Tránh thả cá

vào những lúc trời nắng nóng hoặc

trời có mưa.

- Trước khi thả cá cần ngâm bao cá

trong ao từ 10 – 15 phút để cân

bằng nhiệt độ nước trong bao cá

và ngoài ao. Sau đó cho nước từ từ vào bao cá và để cá tự bơi ra ngoài.

- Để phòng bệnh cho cá, trước khi thả cá cần tắm cho cá bằng nước muối với

nồng độ 2 – 3% (với 10 lít nước ta hoà 2 lạng – 3 lạng) trong thời gian từ 5 – 10

phút. Trong thời gian tắm nước muối cần quan sát hoạt động của cá, nếu cá phản

ứng mạnh cần thả cá ra ao.

5. Chăm sóc và quản lý cá nuôi

5.1. Thức ăn và chế độ cho ăn

* Thức ăn:

- Cá lóc là động vật thịt, rất háu ăn.

Trong tự nhiên cá chỉ ăn các mồi

động, có tập tính rình bắt mồi.

- Đối với cá lóc nuôi ta có thể sử

dụng các loại thức ăn như sau:

+ Các loại cá tạp giá rẻ, tép nhỏ, cua

ốc ngoài ruộng đồng.

+ Nên cho cá ăn thêm thức ăn chế

biến để khi không có nguồn cá tạp thì

có thể sử dụng thức ăn chế biến để

thay thế. Thức ăn chế biến bao gồm:

cá tạp (hoặc bột cá), cám gạo, bột

bắp, bột sắn với hàm lượng đạm trong thức ăn lớn hơn 20%.

Cá lóc giống

Cá tạp 6

+ Có thể sử dụng tép hoặc khuyết khô để làm thức ăn cho cá nếu không có nguồn

cá tạp. Sử dụng thức ăn loại này ít làm bẩn nước nhưng giá thành thức ăn sẽ cao

và cá chậm lớn hơn.

+ Ngoài ra ở những địa phương có

nhiều nguồn phân trâu, phân bò có thể

kết hợp nuôi giun quế để làm thức ăn bổ

sung đạm cho cá nuôi cũng như các

động vật nuôi khác.

* Chế độ cho ăn

- Nên cho cá ăn ngày 2 lần vào buổi

sáng và chiều mát để đảm bảo cho cá

phát triển nhanh.

- Thời điểm mới thả giống thức ăn cá tạp cần được xay nhuyễn để vừa với cỡ

miệng của cá hoặc hấp chín rồi lấy phần thịt cho cá ăn.

- Khi cá lớn hơn thì chỉ cần cắt cá tạp vừa với cỡ miệng của cá.

- Không sử dụng các loại thức ăn đã ươn thối để cho cá ăn.

- Tốt nhất nên sử dụng sàn ăn để cho cá ăn để có thể điều tiết lượng thức ăn phù

hợp và làm giảm ô nhiễm nước trong bể giúp hạn chế thay nước.

- Khẩu phần ăn cho cá hằng ngày sẽ được định lượng cho phù hợp với nhu cầu

dinh dưỡng ở các giai đoạn phát triển của cá

Kích cỡ cá giống (g/con)

Khẩu phần thức ăn (% so với

trọng lượng cá)

< 10g 10 – 12

10 – 20 8 – 10

20 – 30 5 – 8

30 – 50 5 – 8

50 – 100 5 – 8

> 100 5

+ Ngoài ra tùy theo điều kiện sức khỏe của cá, điều kiện thời tiết để điều chỉnh

lượng thức ăn cho phù hợp.

5.2. Chăm sóc, quản lý cá nuôi

- Giữ môi trường nước trong sạch, định kỳ 2 - 3 ngày thay nước một lần.

- Hằng tháng tiến hành cân cá để kiểm tra tốc độ sinh trưởng của cá nuôi.

- Nếu có nhiều bể nuôi nên tiến hành phân cỡ cá nuôi riêng từng bể để đảm bảo

cá phát triển tốt, hạn chế cạnh tranh thức ăn.

Giun quế 7

- Sử dụng lưới hoặc phên tre để rào quanh bể cá nuôi tránh trường hợp cá nhảy ra

khỏi bể và ngăn không cho cá thoát ra ngoài khi bị ngập lụt

6. Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị

6.1. Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp

- Xử lý bể cẩn thẩn trước khi thả cá để diệt trừ các mầm bệnh trong bể nuôi.

- Chọn mua cá giống chất lượng cao, không mua cá bị bệnh. Tắm cá bằng nước

muối để phòng bệnh trước khi thả.

- Cho cá ăn đầy đủ số lượng và chất lượng để nâng cao sức đề kháng của cá.

- Bón vôi và treo túi vôi đầu nguồn nước cấp để phòng bệnh cho cá.

- Duy trì các yếu tố môi trường thích hợp cho sự phát triển của cá nuôi. Chủ động

nguồn nước để thay khi môi trường nuôi bị ô nhiễm

6.2. Một số bệnh thường gặp

a) Bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Aeromonas

* Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Aeromonas gây ra

* Dấu hiệu bệnh lý

- Dấu hiệu đầu tiên là cá kém ăn, bỏ ăn nổi lờ đờ trên tầng mặt. Da cá thường đổi

màu tối, cá mất nhớt. Xuất hiện các đốm xuất huyết màu đỏ trên thân, các gốc

vây, quanh miệng, râu xuất huyết hoặc bạc trắng. Xuất hiện các vết loét ăn sâu

vào cơ, có mùi hôi thối, trên vết loét thường có nấm và kí sinh trùng kí sinh. Mắt

lồi đục, hậu môn viêm xuất

huyết, bụng có thể chướng

to, các vây xơ rách, tia vây

cụt dần.

- Cá bị bệnh xoang bụng

xuất huyết.

* Phòng và trị bệnh

- Phòng bệnh: Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp.

- Trị bệnh

+ Cá giống dùng phương pháp tắm trong thời gian 1 giờ. Oxytetracyline nồng độ

20 – 50 ppm hoặc Streptomycine nồng độ 20 – 50 ppm.

+ Cá thịt dùng phương pháp trộn vào thức ăn để cho ăn. Sulfamid với liều lượng

150 – 200mg/kg cá/ngày.

b) Bệnh nấm thủy mi

* Tác nhân gây bệnh: Do các loài nấm thủy mi gây ra

* Dấu hiệu bệnh lý:

Cá bị bệnh đốm đỏ 8

- Trên da xuất hiện những vùng trắng xám, có các sợi nấm nhỏ mềm. Sau vài

ngày sợi nấm phát triển, đan chéo thành từng búi trắng như bông, có thể nhìn

thấy bằng mắt thường.

- Bệnh xuất hiện nhiều ở trong ao nước tù

đọng, có nhiều mùn bã hữu cơ, mật độ nuôi

dày, cá giống bị xây xát. Vết thương ngoài da

do kí sinh trùng, vi khuẩn gây ra.

* Phòng và trị bệnh

- Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng

hợp.

- Trị bệnh: Tắm bằng formol nồng độ 200 – 300 ppm trong 15 – 30 phút hoặc

phun xuống ao, bể nuôi 2 lần/tuần với nồng độ 10 – 20 ppm.

c) Bệnh trùng bánh xe Trichodina

* Tác nhân gây bệnh

- Xuất hiện ở ao nuôi mật độ cao, môi

trường bẩn.

- Hình tròn, vận động như bánh xe quay

tròn.

- Ký sinh trên da, mang, gốc vây, xuất hiện

mùa mưa, nhiệt độ môi trường thấp.

* Biểu hiện: Có nhớt màu trắng hơi đục,

nổi đầu nơi nước chảy, ngứa ngáy, nhô

đầu lên mặt nước, lắc mạnh đầu, lờ đờ, đảo lộn, chìm xuống đáy, chết.

* Phòng, trị bệnh:

- Phòng: Giữ môi trường nuôi luôn sạch, mật độ nuôi không quá dày.

- Trị:

+ Dùng Sulphat đồng (CuSO4) ngâm, nồng độ 0,5-0,7g/m3 nước hoặc tắm cá,

nồng độ 2-5 g/m3 nước trong 5 – 15 phút.

+ Dùng muối ăn (NaCl) 2-3% tắm cá 5 - 15 phút.

d) Bệnh trùng quả dưa

* Tác nhân gây bệnh:

- Do trùng quả dưa Ichthyophthiriosis gây ra.

* Dấu hiệu:

- Ký sinh trên da, mang và vây, bám tập trung phát triển thành các đám hạt màu

trắng, nhìn thấy bằng mắt thường.

- Thường gặp cá giống.

Nấm thủy mi

Trùng bánh xe 9

* Biểu hiện: Nổi đầu từng đàn trên

mặt nước, bơi lờ đờ do trùng bám

nhiều ở mang, phá hoại biểu mô mang

làm cá ngạt thở.

* Phòng, trị bệnh:

- Áp dụng các biện pháp phòng bệnh

tổng hợp.

- Không nuôi mật độ dày, ko thả lẫn

với cá khỏe.

- Trước khi thả dùng hỗn hợp muối ăn (NaCl) và thuốc tím (KMnO4) tắm cho cá,

liều lượng 7 kg muối ăn + 4 g thuốc tím/m3, tắm cho cá trong 10-15 phút.

7. Thu hoạch cá nuôi

Thu hoạch cá tránh vào những thời

điểm nhiều cá đồng để đảm bảo giá

cá bán được cao hơn.

- Sau khi nuôi khoảng 4 tháng ta tiến

hành thu tỉa những cá lớn (đạt cỡ 0,5

– 0,6 kg/con) thu hoạch

- Sau 5 tháng nuôi cá đạt được kích

thước thương phẩm (0,5 – 0,6

kg/con) ta tiến hành thu hoạch toàn

bộ cá trong bể nuôi.