• Chiến lược phòng ngừa bệnh trong nghề nuôi tôm

    Thảo luận trong 'Tin nông nghiệp' , 30/6/09

    1. Guest Guest

      Hiện nay những người nuôi tôm trên thế giới đang phải gánh chịu những tổn thất đáng kể do bệnh virus gây ra.

      Những nhà nghiên cứu đến từ Chương trình nuôi tôm biển của Mỹ - U.S. Marine Shrimp Farming Program (USMSFP) đã phát triển những cách tiếp cận mới để giảm nhẹ sự tác động và tàn phá của virus với tôm nuôi bao gồm cả việc sử dụng những loài tôm sạch bệnh (SPF) và những loài có khả năng kháng bệnh (SPR) cũng như sử dụng hệ thống sản xuất an toàn sinh học để dựa vào đó mà ngăn chặn, loại trừ mầm bệnh. Những cách tiếp cận đó đã được tiến hành và phát triển trong hơn một thập kỷ qua ở Mỹ.

      Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 những người nuôi tôm ở Mỹ đã nhìn thấy Hội chứng còi cọc dị dạng ở tôm (Runt Deformity Syndrome - RDS). Bệnh đã gây thiệt hại đáng kể về kinh tế với nghề nuôi tôm chân trắng ở Thái Bình Dương. Đặc trưng của hội chứng bệnh này là làm giảm tốc độ tăng trưởng của tôm, và những biến dạng ở lớp vỏ cutin. Nguyên nhân của bệnh này là do lây nhiễm virus gây hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô (Infectious hypodermal and hematopoietic necrosis virus - IHHNV). Việc gia tăng hội chứng RDS trong các trang trại nuôi tôm đã buộc các nhà nghiên cứu phát triển nguồn tôm L. vannamei sạch bệnh không nhiễm virus IHHNV.

      Những con tôm khoẻ mạnh từ nguồn tôm sạch bệnh được chuyển tới các nông trại nuôi tôm và kết quả là sản xuất tôm ở Mỹ gia tăng đáng kể trong giai đoạn từ năm 1992-1994. Tuy nhiên vào giữa năm 1995 thì hội chứng Taura (Taura syndrome virus -TSV) đã được xác định ở phía nam bang Texas và một số khu vực nuôi tôm chính của Mỹ. Kết quả là dịch bệnh TSV gần như tàn phá sạch sản lượng tôm nuôi ở đây từ năm 1994 đến 1995. Các nhà nghiên cứu của USMSFP đã ứng phó bằng cách lựa chọn chương trình phát triển tôm L. vannamei có khả năng kháng bệnh TSV. Việc sử dụng những con tôm có sức khoẻ tốt và có khả năng kháng bệnh đưa vào nuôi ở các trang trại sử dụng hệ thống an toàn sinh học đã làm cho lượng tôm sản xuất ở Mỹ tăng từ năm 1998 đến nay.

      Mặc dù tôm kháng bệnh TSV đã cải tiến được tình hình sản suất và mang lại những lợi nhuận giúp người nuôi tôm tránh được những thiệt hại từ hội chứng TSV. Tuy nhiên việc sử dụng những con giống chỉ có khả năng kháng một loại bệnh duy nhất là IHHNV như một sự lựa chọn mang tính chiến lược thì có thể đó không phải là một phương pháp có hiệu quả đối với với sự phát triển lâu dài của của ngành nuôi tôm công nghiệp.

      Các nhà nghiên cứu của USMSFP hiện nay đang phát triển hệ thống sản xuất tôm an toàn sinh học loại trừ mầm bệnh. Kết quả cho thấy hệ thống sản xuất này có thể sản xuất ra 5kg tôm/m2 (cỡ tôm thương phẩm 20g/con) trong vòng 12 tuần và phải sử dụng khoảng 400l nước trên mỗi kg tôm thương phẩm. Với công nghệ này ngành nuôi tôm công nghiệp có thể mở rộng sang các khu vực khác và có thể kiểm soát tốt hơn với sự lây lan của dịch bệnh và không gây ra ảnh hưởng bất lợi nào cho môi trường.











      Theo Bao Nong Nghiep Viet Nam
       
      Last edited by a moderator: 9/3/14
      Đang tải...

    Chia sẻ trang này

    Đang tải...
    Đang tải...