• Điều chỉnh phosphate trong ao nuôi tôm bằng công nghệ Biofloc

    Thảo luận trong 'Nuôi trồng Thủy hải sản' , 28/6/12

    1. hathu-yeunongnghiep yeunongnghiep

      Phosphate and Bioflocs
      A Continuation of the pH Discussion
      Th pH discussion got reignited a few weeks later when someone brought up the importance of controlling phosphate in intensive shrimp ponds, so I decided to add it here.

      Adam Body (a.body@bigpond.com): Hi Billy [Billy is a shrimp farmer in Indonesia who started the original discussion on pH]: On our farm, we do not use a floc system, but we do use molasses and limited water exchange. We have found that a lot of the bloom variability in our ponds can be reduced by controlling phosphate. Over the last few months we have been trying a product called “Phoslock” and have found that we can take phosphate levels way down. We initially tried it to help control a Prymnesium parvum bloom (a toxin producing flagellated alga), and that worked well, so we are now using it as a general pond management tool.
      Chào Billy [Billy là 1 người nuôi tôm ở Indonesia, anh đã khởi đầu chủ đề thảo luận này], ở chỗ chúng tôi không có áp dụng công nghệ biofloc, nhưng chúng tôi có dùng mật rỉ đường và hạn chế thay nước. Chúng tôi nhận thấy rằng có thể kiềm chế việc phát triển nhiều loại tảo khác nhau trong ao bằng cách kiểm soát phosphate. Trong vài tháng qua, chúng tôi đã thử dùng 1 loại sản phẩm có tên là “Phoslock" và nhận thấy là nó có thể làm giảm nồng độ phosphate. Đầu tiên chúng tôi chỉ định dùng để diệt tảo Prymnesium parvum (một loại tảo độc có hình roi), và thấy rất có hiệu quả, cho nên chúng tôi tiếp tục dùng cho đến nay.


      Billy (surijo_setio@yahoo.com): Thanks. I’m doing that and things are getting under control.
      Cám ơn nhé. Tôi đang làm dùng đây, và thấy tình hình có vẻ như đã ổn.

      Adam Body (a.body@bigpond.com): We did try other ways to control phosphate, but they were only temporary at best. The Phoslock is permanent and safe. This is a plug for an Aussie product—but it works for us.
      Chúng tôi cũng đã thử kiểm soát phosphate bằng các cách khác nhau, nhưng nó chỉ hạ nhất thời rồi thôi. Còn đối với sản phẩm Phoslock thì hiệu quả lâu dài và an toàn hơn. Nghe giống như đang quảng cáo cho một sản phẩm của Úc – nhưng quả thật chúng tôi dùng thấy tốt.


      Billy (surijo_setio@yahoo.com): I’ll look for Phoslock in Indonesia. One of my ponds has very high floc and phosphate levels. The flocs block the sun, so there’s not much algae to absorb the phosphate.
      Tôi sẽ tìm mua Phoslock ở Indonesia. Một ao nuôi của tôi có mật độ floc và nồng độ phosphate rất cao. Floc che ánh sáng mặt trời, cho nên không có đủ tảo để tiêu thụ phosphate.


      I’m still doing a lot of observation, trying to figure out the what, when, how and why of bioflocs. Sometimes it is really annoying because what happens seems to be just the opposite of what’s supposed to happen—and that’s scary.
      Tôi vẫn đang theo dõi và tìm hiểu về những yếu tố của công nghệ biofloc (công nghệ này có những gì? Làm vào lúc nào? Như thế nào? Và tại sao lại như vậy?). Đôi khi tôi cảm thấy khá bực bội bởi vì thực tế xảy ra nó trái ngược với những gì đã được giả định – và như thế thì thật là đáng lo ngại.


      Alain Herni (alainhenri@aol.com): My experience with flocs was in the 1970s with Harvey Persyn and the Ralston Purina team in Crystal River, Florida, USA. We can debate the stability of floc systems forever, but in my view, they are inherently chaotic, very sensitive to initial conditions like water chemistry and light intensity. Site variables—soils, air and weather—also play a role in the behavior of these systems. In addition, many of the organisms in floc systems, like rotifers and ciliates, experience chaotic population cycles that contribute to instability.
      Tôi đã làm việc với công nghệ biofloc này từ những năm 70, cùng với Harvey Persyn và đội Ralston Purina ở sông Crystal, bang Florida, Mỹ. Chúng tôi có thể tranh luận đến hết đời để chứng minh tính ổn định của biofloc, nhưng theo quan điểm của riêng tôi, công nghệ này vốn dĩ rất phức tạp, rất dễ bị tác động bởi những điều kiện ban đầu như các thông số hóa học của nước và cường độ ánh sáng. Ngoài ra, các yếu tố về địa điểm nuôi như đất, không khí và thời tiết, cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong những thay đổi của hệ thống này. Thêm vào đó, các sinh vật trong hệ thống như luân trùng (Nhóm động vật thuỷ sinh kích thước nhỏ bé thuộc một lớp riêng của ngành Aschelminthes. Chúng có đặc điểm là có một vành ở đầu phía trước, vành này mang những tấm lông mao dùng để tìm thức ăn và di chuyển. Luân trùng làm thức ăn tươi sống quan trọng trong ương nuôi các loài cá biển tại các trại sản xuất giống - ND) và mao trùng với sự phát triển bùng phát thất thường cũng góp phần ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ thống.


      And, yes, phosphates tend to build up in biofloc systems. Shrimp feed, for example, rapidly increases the amount of phosphate in the water.
      Và dĩ nhiên chúng ta cũng phải tính đến sự phát triển có xu hướng tăng của phosphate. Ví dụ như từ thức ăn thừa của tôm trong nước.


      The IIFREMER AQUACOP team in Tahiti runs biofloc experiments in 1,000 m3 tanks using Penaeus vannamei. We implement our biofloc technology at Sopomer, a small commercial farm in Tahiti that has ten 1,000 m3 tanks and was able to produce 20 metric tons per crop in a floc system with AIRE-O2 aerators. The main problem was avoiding green filamentous algae. We also use floc systems in small tanks of 10 m3 to maintain ourP. vannamei broodstock. We have more than 20 generations of P. vannamei derived from a small population of postlarvae introduced in the mid 1970s. In aerated small tanks, you can easily control the light and other variables, so they are more stable.
      Đội IIFREMER AQUACOP ở Tahiti đã tiến hành thử nghiệm công nghệ biofloc để nuôi tôm chân trắng trong bể nuôi có diện tích 1,000 mét vuông. Còn mô hình biofloc của chúng tôi thì được triển khai ở Sopomer, một trang trại nhỏ ở Tahiti, có 10 bể nuôi với thể tích là 1,000 mét khối/bể, đủ khả năng sản xuất 20 tấn tôm mỗi vụ, và chúng tôi dùng máy sục khí AIRE-O2. Vấn đề khó khăn nhất là không cho tảo sợi xanh mọc. Chúng tôi cũng dùng công nghệ floc để nuôi tôm chân trắng trong bể có thể tích 10 mét khối. Chúng tôi đã cho ra đời hơn 20 đợt ấu trùng tôm vào giữa thập niên 70, tuy mỗi đợt số lượng không nhiều. Đối với những bể nuôi nhỏ thì chúng ta có thể điều chỉnh cường độ ánh sáng cũng như các yếu tố khác 1 cách dễ dàng, do đó nó ổn định hơn so với mô hình cỡ lớn.


      Adam Body (a.body@bigpond.com): I have very little experience with floc systems. Our system uses minimal water change and organic carbon (molasses) to balance the excess nitrogen originating from the protein in the feed. Alain’s comments regarding chaotic systems are quite correct. Our “models” cannot possibly provide us with a forecast of what will happen in outdoor ponds from day to day. What we have found, however, is that by reducing the supply of phosphate we can limit the intensity of the chaos. They are still chaotic, but the numbers are reduced because there are fewer primary nutrients, like phosphate, in the water, so the algal biomass is limited, allowing more control over water transparency and subsequently limiting the size of diurnal pH and oxygen fluctuations and allowing development of more stable and diverse blooms.
      Tôi có rất ít kinh nghiệm về nuôi tôm bằng công nghệ biofloc. Hệ thống nuôi của chúng tôi thay nước rất ít, và cũng dùng rất ít carbon (nguồn carbon là mật rỉ đường) để cân bằng hàm lượng Ni-tơ dư thừa sản sinh ra từ nguồn đạm trong thức ăn của tôm. Ý kiến của Alain về tính phức tạp của mô hình này là hoàn toàn chính xác. “Mô hình mẫu” của chúng tôi không thể tiên lượng được hết những gì có thể xảy ra với hệ thống nuôi ngoài trời hết ngày này qua ngày khác được. Tuy nhiên, chúng tôi đã nghiệm ra rằng, nếu hạn chế nguồn phosphate thì chúng ta có thể phần nào giảm được tính phức tạp của hệ thống này. Dĩ nhiên đây vẫn là một công nghệ phức tạp, nhưng tính phức tạp đó được giảm đi bởi vì khi chất dinh dưỡng trọng yếu có trong nước, chẳng hạn như phosphate, được loại bỏ, thì sinh khối tảo cũng bị hạn chế. Điều đó cho phép chúng ta có thể kiểm soát tốt hơn độ trong của nước, và giảm độ biến động nồng độ pH và o-xi ban ngày, giúp cho hệ thống hoạt động ổn định hơn.

      Billy (surijo_setio@yahoo.com): Yup, that’s true. How high does phosphate get before you begin controlling it? 1 ppm? 0.5 ppm?
      Vâng, đúng như vậy. Nồng độ phosphate của anh lên cao đến bao nhiêu thì anh bắt đầu kiềm chế nó? 1 ppm? hay 0.05 ppm?


      At this moment, my phosphate levels are less than 2 ppm, except for one pond where the floc is dense and the phosphate high.
      Hiện tại mức phosphate của tôi đang thấp hơn 2 ppm, ngoại trừ có 1 ao có floc dày đặc và nồng độ phosphate cao.


      Adam Body (a.body@bigpond.com): Once the bloom is around 35-40 cm transparency we aim to cut phosphate down to less than 0.03 ppm. Any higher than that and the bloom starts to grow and your Secchi disk reading will drop to 30 cm or less. I asked our feed manufacturer about the amount of phosphate in our feed, and he said it was around 17 kg per ton, with about 11 kg per ton of it as available phosphate. That’s a lot of phosphate. Our measurements indicate that a lot of it must be in another form because we don’t see anywhere near that much coming from the feed that we use.
      Khi tảo phát triển ở mức độ trong = 35 – 40, chúng tôi sẽ giảm phosphate xuống mức dưới 0.03 ppm. Nếu phosphate cao hơn mức này và tảo bắt đầu phát triển mạnh, đĩa Secchi sẽ chỉ độ trong của nước ở mức từ 30cm trở xuống. Tôi đả hỏi nhà sản xuất thức ăn cho tôm về hàm lượng của phosphate trong thức ăn, anh ta cho biết nó vào khoảng 17kg phosphate trên 1 tấn thức ăn, như vậy khoảng 11 kg là dư thừa. Như thế là rất nhiều. Các phép đo lường của chúng tôi chỉ ra rằng chắc chắn phần lớn trong số đó tồn tại dưới dạng khác bởi vì chúng tôi không thấy số lượng phosphate nhiều như thế từ thức ăn của tôm.
      Source: The Shrimp List (translated by Ha Thu)
       
      Đang tải...
    2. liemtran308

      liemtran308 Guest

      Ai là người ứng dụng men vi sinh đầu tiên trong nuôi trồng thuỷ sản ....Đọc trong bài nầy hình như có người mạo muội nói là họ ứng dụng trước tiên (ngôn từ mà Tám Lúa đọc và hiểu như vậy".

      Còn vụ nước trong, nước đục (Điều đó cho phép chúng ta có thể kiểm soát tốt hơn độ trong của nước ), đi tìm bài viết về hạ độ Ph của Lão Độc Vật mà đọc.
       
    3. hathu-yeunongnghiep

      hathu-yeunongnghiep yeunongnghiep

      Bài viết:
      99
      Đã được thích:
      108
      Nghề nghiệp:
      phiên dịch viên tự do
      Hi, cám ơn chú Tám. Đúng là đụng đến con tôm thì chú "có mặt trên từng cây số".
      Hathu tìm mãi cái bài pH của chú, vẫn chưa thấy. Hôm nọ có thấy mà cái form trong bài viết bị lỗi, đọc ko được.
      À, Hathu có cái này "đãi" chú, chú xem rồi cho ý kiến thử nhé, Hathu trích từ trang của 1 người bạn (vì ko muốn "dẫn dụ" mọi người đi lòng vòng sang trang khác nên chưa nêu tên, ai có quan tâm thì Thu sẽ đưa nguồn).
      "Sau đây là một số kiểu cách làm của nông dân, những cách này trong kỹ thuật nuôi không đề cập tới hay trong tài liệu sách vở chưa thấy [​IMG]. Mong Anh chị em đóng góp bổ sung thêm để nhìn nhận rõ vấn đề "Lợi-hại".
      Ba Tôm Thanks.
      1. Diệt giáp xác = thuốc trừ sâu => Lợi: rẻ tiền, hiệu quả. Hại: Giờ đang diễn ra, tồn dư Cybermethrin, khó nuôi....
      2. Diệt khuẩn = nước tẩy Javen, nước phụ khoa. => Lợi: rẻ tiền, hiệu quả Hại: Chưa thấy gì
      3. Gây màu = phân bón lá dùng trong nông nghiệp. Chiêu mới [​IMG]
      4. Làm tôm cứng vỏ, chống óp thân = Ximăng => Lợi: Rẻ $, hiệu quả. (Ba Tôm đã làm thử 1bao/1000m3, dung truoc khi thu hoach 12 giờ nhé). Hại: Có thể làm những con tôm gần đến giai đoạn lột xác lột luôn, mang tôm có thể bị đục do xi măng. [​IMG]
      5. Tăng kiềm, ổn định kiềm = Tro bếp (ý này của thành viên Nguyễn Hồ) Ba tôm chưa test. [​IMG]
      6. Giảm tảo, làm môi trường sạch hơn = Vi sinh hầm cầu. Lợi: Rẻ $, hiệu quả. Ba Tôm đã làm thử 1gói+ 0,5kg đường mía/1000m3 hòa vi sinh hầm cầu và đường mía ra thau chạy oxy khoảng 1giờ rồi tạt xuống ao). Hại: Dùng vào tháng thứ 4 - 5 khi độ trong thấp (mật độ tảo cao)hưa thấy gì [​IMG]
      7. Áo thức ăn = chuối chín, trứng vịt, mật ong. Lợi: Rẻ $, hiệu quả
      8. Bổ sung dinh dưỡng, tạo thêm mùi tanh cho tôm mau bắt mồi = hột vịt lộn (xay nhuyển [​IMG], 1 trứng /2kg thức ăn) Lợi: Rẻ $ hơn một số chất bổ sung khác, hiệu quả.
      9. Cho tôm ăn thêm = ốc bưu vàng ( Cái này của Bác Sáu Ngoãn đi tiên phong [​IMG]). Lợi: Rẻ $, hiệu quả, hạn chế là chỉ có ốc vào mùa mưa thôi, và chỉ cho ăn thêm khi tôm vào giai đoạn gần thu hoạch, tháng cuối."

      Chú có thấy ai áp dụng mấy cách này chưa chú? Hihi, đặc biệt là mấy người nước ngoài, nuôi theo sách. Hathu đọc mà cứ tủm tỉm, nông dân mình tài thật.
       
    4. liemtran308

      liemtran308 Guest

      "Hihi, đặc biệt là mấy người nước ngoài, nuôi theo sách"
      Ý nói là Tám Lúa nuôi "TRONG" SÁCH, nuôi "TRÊN" MẠNG ...ka ka ....

      Thôi đi Cô Nương, chơi cái "CHÒ THUỶ-CANH", Xưa rồi Diễm ...về nhà mở Email đọc bài lại đi ...xem Người Đương Thời hay Lão Độc Vật có bỏ tiền ra nuôi hay không ...hay là Tám Lúa nói phét ...

      Còn 3 Tôm ....Sáu Ngoãn ở Bạc Liêu (danh hiệu Vua nuôi tôm) gì đó ...có "ỐC" sáng tạo gì đó ...cứ thử nuôi thì biết liền ...Tám Lúa không rảnh "Tám" hoặc lạm bàn "SÁNG TẠO" của người khác ...mà những thứ đó không phải là của mình.
       
    5. thuysandopa

      thuysandopa

      Bài viết:
      1.016
      Đã được thích:
      14
      Nghề nghiệp:
      Kỹ Sư Thuỷ Sản
      Nghe Hathu nói quen qua hình như trên một mạng diễn đàn thuỷ sản mà không tiện nói thêm. Còn về phần bác Tám bác vẫn nhiệt tình như ngày nào nhưng trong lời nói của bác hơi cay hơi độc.... hiii hiii
       

    Chia sẻ trang này

    Đang tải...
    Đang tải...