• Kỹ thuật nuôi cá lóc

    Thảo luận trong 'Nuôi cá' , 20/7/07

    1. Kỹ thuật nuôi cá lóc

      Thảo luận trong 'Nuôi cá' , 20/7/07
      Cá lóc
      là loài cá sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh, rạch, ao, hồ, đầm, tốc độ sinh
      trưởng nhanh, thích nghi với mọi môi trường nước (đục, tù, nóng) có thể chịu
      đựng được ở nhiệt độ 39 - 40 o C.<i></i>



      <i>Các loại cá lóc<o:p /></i>
      Cá lóc là loài cá sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh, rạch, ao, hồ,
      đầm, tốc độ sinh trưởng nhanh, thích nghi với mọi môi trường nước (đục,
      tù, nóng) có thể chịu đựng được ở nhiệt độ 39 - 40 o C.

      Ở Miền <st1:place w:st="on"><st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region></st1:place>, Cá lóc bông được nuôi trong lồng (bè).

      ·        <i>Đặc điểm sinh học của cá lóc<o:p /></i>

      1. Là loài cá dữ, phàm ăn, tính ăn rộng: Cá nhỏ ăn :
      giáp xác, chân chèo, ấu trùng bọ gậy, ấu trùng côn trùng, tôm co n,
      nòng nọc, các loại cá nhỏ khác. Cá trưởng thành ăn tạp: cá, ếch, nhái,
      tôm...

      Chúng ăn mạnh vào mùa hè, khi nhiệt độ giảm xuống dưới 12 o C cá
      ngừng kiếm ăn. Cá béo vào trước mùa đẻ, cá ở vùng nước lợ béo hơn ở
      vùng nước ngọt.


      2. Sinh sản: Cá 1 - 2 tuổi bắt đầu đẻ trứng, có thể
      đẻ 5 lần/năm. Sau khi đẻ, cá mẹ bảo vệ cá con khoảng một tháng rồi tiếp
      tục đẻ lần khác. Mùa đẻ ở miền Bắc vào tháng 5 - 8, tập trung vào tháng
      4 - 5.

      Cá đẻ ở nơi yên tĩnh, có nhiều cây cỏ thực vật thủy sinh, đẻ vào
      sáng sớm, sau mỗi trận mưa rào 1 - 2 ngày. Trước lúc đẻ, cá làm tổ hình
      tròn, đường kính tổ khoảng 40 - 50 cm. Ở nhiệt độ 20 - 35 o C sau ba
      ngày nở thành con. Trong môi trường tự nhiên, sau 3 ngày cá con tiêu
      hết noãn hoàng, lớn dài 4 - 5 cm bắt đầu tách khỏi đàn sống độc lập.

      3. Sinh trưởng: Cá lớn nhanh vào mùa xuân hè. Cá lóc
      1 tuổi dài 19 - 39 cm, nặng 100 - 750 g. Cá hai tuổi thân dài 38 - 45
      cm, nặng 600 - 1400 g. Cá ba tuổi dài 45 - 59 cm, nặng 1.200 - 2.000 g.
      Cá có thể sống trên 10 năm dài 67 - 85 cm, nặng 7000 - 8000 g.

      thích ở nơi có rong đuôi chó, cỏ dừa, tóc tiên, vì nơi này chúng dễ ẩn
      mình để rình mồi. Mùa hè thường sống ở trên tầng mặt, mùa đông khi
      nhiệt độ dưới 8 o C cá thường xuống sâu hơn, ở nhiệt độ 6 o C cá ít
      hoạt động.

      <i>Kỹ thuật nuôi<o:p /></i>

      1. Phân biệt cá đực, cá cái:

      - Cá đực: thân dài, thon, đầu to, bụng nhỏ rắn chắc, lỗ sinh dục và lỗ hậu môn riêng biệt.

      - Cá cái: thân ngắn, đầu nhỏ, bụng to, mềm sệ xuống, lỗ sinh dục to, lồi gần sát lỗ hậu môn.



      2. Kỹ thuật nuôi cá: Dựa vào tính ăn của cá lóc, có thể nuôi
      ghép với cá mè, trôi, chép, trắm cỏ, rô phi, diếc để diệt cá tạp đảm
      bảo hợp lý nguồn thức ăn, cải tạo và nâng cao sức sản xuất của vùng
      nước. Tuy nhiên, cần chú ý tỉ lệ, mật độ kích cỡ cá thả.

      Nuôi cá lóc con: Trước khi thả cá bột vào, phải dọn tẩy ao để sinh
      vật phù du phát triển mạnh. Mật độ: 6 - 7 vạn con/mẫu. Sau khi thả 7 -
      8 ngày chưa cho ăn, có thể vừa bón phân vừa vớt động vật phù du bổ sung
      vào ao (3 - 4 kg động vật phù du / một vạn cá). 18 - 20 ngày sau cá có
      màu vàng, trên thân xuất hiện vảy, sau đó cá chuyển màu đen, dài 3 - 6
      cm, tỉ lệ sống khoảng 60 - 65%, nuôi tiếp 20 ngày, cá đạt 6 cm, bắt đầu
      cho ăn tôm, tép, cá con hay thức ăn chế biến có đạm cao.

      Nuôi trong 2 tháng, cá giống được 9 - 12 cm, đưa ra ao lớn nuôi thành cá thịt.

      Nuôi cá thịt ở ao: Trạm Nghiên cứu cá nước ngọt Đình Bảng, Tiên Sơn,
      Hà Bắc (nay là Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I) đã thí nghiệm
      nuôi cá lóc với cá rô phi (dùng cá rô phi làm thức ăn cho cá lóc).

      Ao diện tích: 35 m 2 . Độ sâu: 70 - 80 cm. Mật độ thả: 0,5 - 1 con/m 2 .

      Sau 4 tháng nuôi, cá đạt 80 - 100 g/con, con lớn đạt 350 g/con.

      Tính ra cứ 4 kg cá rô phi con được 1 kg cá lóc thịt.

      Nuôi cá lóc ghép với cá nuôi khác: Nuôi ghép cá lóc với cá mè, trôi,
      chép, rô phi, diếc. Diện tích ao: 200 m 2 . Trên bờ ao rào bằng phên
      nứa cao 0,4 m, thả bèo tây chiếm 5% diện tích ao nuôi. Thức ăn bằng
      phân lợn ủ, mỗi tuần bón 2 lần. Mỗi lần 0,1 - 0,15 kg/m 3 nước. Sau 3
      tháng nuôi, cá lóc đạt 147 g/con, cá mè : 120 g/con, cá trôi: 40 g/con,
      cá rô phi : 70 g/con.

      ·        <i>Tìm hiểu thêm: kinh nghiệm nuôi cá lóc thịt ở Trung Quốc <o:p /></i>

      a. Nuôi ghép với cá khác: Nuôi ghép cá lóc với cá mè, trôi, trắm,
      chép trong ao để tạo điều kiện tốt cho các loài cá nuôi sinh trưởng
      nhanh.

      Ao phải có bờ cao (bờ cao hơn mặt nước ao 30 - 40 cm), nước ở ao
      không rò rỉ, cá lóc cỡ 3 cm, ghép 50 - 300 con/mẫu. Sau 5 - 6 tháng
      nuôi cá lớn được 0,2 - 0,6 kg/con, tỉ lệ sống 80%. Năng suất cá lóc 20
      - 50 kg/mẫu.

      b. Nuôi cá lóc là chính: Diện tích ao: 1 - 2 mẫu; Độ sâu: 1,5 - 2 m.

      Xung quanh ao thả bèo Nhật Bản rộng 0,8 - 1 m (dùng cọc và sào ngăn
      lại) để phòng cá nhảy đi, tạo môi trường cho cá lóc lớn nhanh.

      Mật độ thả: Dựa vào nguồn thức ăn và chất nước để quyết định. Có thể
      thả 10 con/m 2 (cỡ 3 cm). Để tránh tình trạng cá lớn ăn cá bé, bắt cá
      lớn chuyển sang ao khác , mật độ 2 - 3 con/m 2 . Nếu nguồn thức ăn
      phong phú, mật độ có thể dầy hơn.

      Nuôi cỡ cá giống 12 - 18 cm/con, cuối năm đạt 0,5 - 0,6 kg/con.
      Ngoài ra có thể ghép một ít cá mè trắng, mè hoa để cải thiện chất nước.


      * Luyện cho cá ăn:

      Thức ăn gồm:

      - Thức ăn sống như: động vật phù du, tôm, tép con, cá con, giun, dòi.....

      - Thức ăn chế biến: phối hợp 70% cá tạp nghiền nát, 20% bột đậu khô
      lạc... 5% men, còn lại là các vitamin, muối khoáng, thuốc kháng sinh.

      Cho ăn 2 lần/ngày, sáng và chiều. Số lượng cho ăn bằng 5 - 7% trọng
      lượng cá, mùa cá sinh trưởng nhanh không cho ăn quá 10% trọng lượng cá.
      Nếu cho cá ăn thức ăn chế biến, phải tập luyện cho cá ngay từ còn nhỏ.
      Trong thời gian luyện cho ăn thức ăn chế biến, không được cho ăn thức
      ăn sống. Nuôi 1 năm cá đạt 0,5 kg/con. Năng suất 300 kg/mẫu.

      * Quản lý ao nuôi: Cá lóc thịt có thể nhảy cao đến 1,5 m nhất là khi
      trời mưa hay có dòng nước chảy. Vì vậy phải thăm ao thường xuyên.

      Thức ăn phải tươi, trước lúc cho ăn phải vệ sinh sàn cho ăn. Để đảm
      bảo nước luôn sạch, tốt nhất nên có dòng chảy. Nuôi ở ao có diện tích
      3,5 mẫu năng suất đạt 300 kg/mẫu và 50 kg cá mè, là đạt hiệu quả kinh
      tế cao.

      Nuôi cá lóc ở bè

      Ở miền Nam, cá lóc con cỡ 3 - 4 cm đem ương, nuôi ở bè rộng 1,5 (1,5
      - 1 m) thả 5.000 con, cho ăn bằng cá linh băm nhỏ, phế phẩm ở các chợ,
      đầu, ruột cá… xay nhuyễn đặt lên tấm vỉ bằng tre. Nuôi đến cỡ 10 - 12
      cm chuyển sang bè có kích thước lớn hơn. Thường nuôi 3 tháng đạt 1,2
      kg/con.




      <i>(Theo kỹ sư Ngô Trọng Lư)</i><i><o:p /></i>
       
      Guest

      Tác giả: Guest

      Guest


      Bài viết liên quan
      Đang tải...
    2. 0 Bình luậnĐăng bình luận