• Kỹ Thuật Nuôi Cá Trê Lai

    Thảo luận trong 'Nuôi trồng Thủy hải sản' , 13/8/12

    1. vutranthiet Thành Viên mới

      1. Cá Trê lai, một loại cá có sức chống chịu cao đối với điều kiện xấu của ao nuôi
      Cá Trê lai cỡ thương phẩm có thể sống trong nước với các giới hạn:
      - Nhiệt độ từ 8 đến 39,5 0C
      - Độ chua, kiềm: pH từ 3,5 đến 10,5
      - Độ muối dưới 15 0/00
      - Ôxy hoà tan: Cá có cơ quan thở phụ, hấp thụ được ôxy khí trời, nên có thể sống những nơi chật hẹp, hàm lượng ôxy hoà tan rất thấp, thậm chí có thể sống ở bên ngoài nước một số giờ nếu giữ được độ ẩm cầm thiết cho cá. Cá càng lớn khả năng chống chịu của cá càng cao.

      - Nhược điểm của cá Trê lai là khả năng chịu rét hơi kém. Vì thế về mùa đông ở Miền Bắc cần có kế hoạch phòng chống rét cho cá.

      2. Cá Trê lai lớn nhanh, cho năng suất cao
      - Cá con: Ương nuôi từ cá bột sau 28 ngày có thể đạt qui cỡ cá giống 4-6 cm.
      - Cá thương phẩm: Nuôi từ cá giống, sau 4-5 tháng đạt qui cỡ 250-400 g/con.
      - Có thể đạt năng suất 1,0-2,0 kg/m2 sau 4-5 tháng nuôi trong điều kiện bình thường, không cần điều kiện thiết bị phức tạp.

      3. Cá Trê lai là loài cá ăn tạp, ăn trực tiếp được nhiều loại thức ăn
      - Lúc còn nhỏ ăn các loại động vật cỡ nhỏ sống trong nước như các loại động vật phù du (Thuỷ trần, bọ nước), giun đỏ v.v...
      - Lúc trưởng thành: ăn được các loại mùn bã động vật, côn trùng, cám gạo, phân gia súc, gia cầm, thức ăn hỗn hợp v.v...

      4. Cá Trê lai sinh sản kém, không có hiệu quả trong sản xuất. Chỉ sử dụng con lai F1 để làm cá thịt.

      5. Bạn chọn cá Trê lai thế nào để nuôi ? Và làm thế nào để phân biệt chúng ?
      Hiện nay trên Miền Bắc đang nuôi 5 loài cá Trê lai trong đó 3 loài cá Trê lai thuần là: Cá Trê đen (Clarias fuscus), cá Trê vàng (C. macrocephalus), cá Trê phi (C. gariepinus), hai loại cá trê lai là: F.Đ và F.V.

      Cả hai loại cá trê lai: F.Đ và F.V. đều có tính chống chịu khá, lớn nhanh, thịt ngon, ngoại hình đẹp. Mỗi loại có những ưu điểm riêng: cá trê lai F.Đ có sức chịu rét và chống chịu bệnh tốt hơn F.V, nhưng cá F.V lại có màu sắc đẹp, năng suất cá bột cao hơn F.Đ. Vì thế tuỳ theo điều kiện nuôi dưỡng, yêu cầu thị trường mà ta lựa chọn.

      II. NUÔI CÁ TRÊ THỊT THƯƠNG PHẨM

      Cá trê lai có thể nuôi đơn, nuôi ghép với các loài cá nuôi khác. Khi nuôi ghép cần chú ý tới qui cỡ cá thể để tránh ảnh hưởng xấu lẫn nhau v.v... Đồng thời cá trê có thể nuôi trong hệ thống chăn nuôi tổng hợp với gà, vịt đạt kết quả tốt. Thông thường nuôi đơn dể chăm sóc, quản lý và phổ biến hơn. Dưới đây giới thiệu kỹ thuật về cách nuôi đơn.

      1. Nơi nuôi:
      Ao nuôi có điều kiện giống như ao nuôi vỗ cá bố mẹ, nhưng mực nước sâu hơn, thường sâu từ 1,0-1,5m, diện tích lớn hơn có thể từ vài chục đến vài nghìn m2.


      2. Mật độ thả:
      Tuỳ thuộc vào cỡ cá giống, chế độ thức ăn, khả năng thay nước, trình độ chăm sóc v.v... Nếu nuôi trong diện tích nhỏ, chăm sóc được tốt có thể thả cá cỡ nhỏ 3-5cm. Nếu ao lớn khả năng diệt trừ địch hại khó khăn, mới bắt đầu nuôi kinh nghiệm còn nhiều hạn chế, nên thả cá cỡ 5-7cm. Cá giống thả phải khoẻ mạnh, đồng đều từ nguồn giống tốt. Dưới đây là một số mật độ thả đối với nuôi đơn.

      - Ao nhỏ, chăm sóc, diệt trừ dịch hại tốt: Cỡ giống (cm) 3 – 5; Mật độ (con/m2) 15 – 25.
      - Ao trung bình, chăm sóc đảm bảo: Cỡ giống (cm) 4 – 6; Mật độ (con/m2) 15 – 20.
      - Ao lớn, diệt trừ địch hại khó khăn: Cỡ giống (cm) 5 – 7; Mật độ (con/m2) 10 – 15.
      Nuôi ghép thường thả ghép cá trê 1,0-2,0 con/m2, cỡ cá trê phải nhỏ hơn cá nuôi khác.

      3. Thức ăn cho cá:
      Sử dụng các loại thức ăn: Cám gạo, gạo kém phẩm chất, ngô, bã rượu, mì vụn, bột cá nhạt, đầu vỏ tôm, tôm, cua, ếch, nhái, giun đất, phế phụ lò giết mổ, phân gia súc, gia cầm v.v... để cho cá ăn. Cá càng lớn khả năng tiêu hoá càng mạnh, cá càng ăn tạp. Cần phối trộn các loại thức ăn. Thức ăn chất bột cần nấu chín. Lượng chất đạm (Protein) trong thức ăn càng nhiều càng tốt, lượng tối thiểu cần cho tháng thứ 1: từ 20-30%, tháng thứ 2 từ 10-20%, tháng thứ 3 trở đi từ 10-15% trong tổng số thức ăn.

      Khi cho cá ăn, nắm thành từng nắm khoảng 500 g/1nắm thả từ từ xuống một vài chổ trong ao để cho cá ăn (khoảng 200 m2/1điểm) lượng thức ăn cho ăn từ 4-6% khối lượng cá/ngày theo thức ăn khô, 8-12% theo thức ăn ướt, điều chỉnh theo mức ăn hết của cá.

      Một hình thức tốt là nuôi cá trê thích hợp với nuôi gà vịt, chuồng gà nằm trên bờ hoặc trên bờ ao, thức ăn rơi vãi của gà (5-10%), phân gà là thức ăn tốt cho cá. Cứ khoảng 2,5 kgcon gà nuôi được 1m2 ao. Trên mặt ao thả bèo cái giống mới 1/2 mặt ao để bèo hút bớt chất bẩn đồng thời cung cấp thức ăn cho chăn nuôi. Nếu có điều kiện có một ao khác bên cạnh để dùng nước thải của ao cá trê nuôi các loại khác như mè, rô phi. Các loại cá này làm thức ăn cho người, cá trê hoặc chăn nuôi khác.

      4. Chăm sóc:
      Cá trê lai tuy có sức chịu đựng cao đối với điều kiện xấu của môi trường, nhưng khi nước bị nhiễm bẩn, có màu đen, có mùi hôi cầm thay nước. Về mùa hè cầm chống nóng cho cá bằng cách giữ nước sâu trên 1m, thả bèo trên mặt nước. Về mùa đông cần chống rét cho cá bằng cách giữ nước sâu trên 1,5m, khuất gió, phủ bèo trên mặt ao v.v... Khi mới thả cá còn nhỏ, cần chú ý diệt trừ địch hại như chim bói cá, rắn nước, nếu trong ao có cá lớn quá trội, cần bắt tỉa để tránh cá tranh ăn và ăn lẫn nhau. Có biện pháp tích cực phòng cá đi trong mùa mưa lũ như đăng, cống chắc chắn, đề phòng đánh bắt trộm cá.

      5. Thu hoạch:
      Thu tỉa bằng câu, thả ống, đánh lưới, thu toàn bộ bằng tát cạn ao. Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, khi thu hoạch có thể đạt qui cỡ:
      Nuôi 3-4 tháng đạt cỡ: 200-300 g/con
      Nuôi 5-6 tháng đạt cỡ: 400-500 g/con
      Nuôi 8-10 tháng đạt cỡ: 600-800 g/con
      Tỷ lệ sống đạt từ 70 đến 80%.

      Xem thêm cách phòng một số bệnh thường gặp ở cá trê lại: lam visa gia re

      ve may bay tet 2013 | ve may bay di duc

      Bài viết liên quan
      Đang tải...