• Kỹ thuật nuôi cua biển thương phẩm

    Thảo luận trong 'Tin tức thủy sản' , 8/7/07

    1. Kỹ thuật nuôi cua biển thương phẩm

      Thảo luận trong 'Tin tức thủy sản' , 8/7/07
      Cua biển phân bố nhiều ở vùng biển nước ta, trong đó là cua xanh có tên khoa học là  Scylla serrata (Forskal) là loài có kích thước tương đối lớn, có giá trị kinh tế cao...


      1. Đặc Điểm sinh học của cua biển :
      Cua biển phân bố nhiều ở vùng biển nước ta, trong đó là cua xanh có tên khoa học làScylla serrata</i> (Forskal) là loài có kích thước tương đối lớn, có giá trị kinh tế cao.
      Tính ăn :
      Cua biển là loài ăn tạp nghiên về động vật. Giai đoạn ấu trùng thức ăn là những loài động vật phù du (luân trùng, moina, artemia…). Giai đoạn từ cua con đến cua trưởng thành thức ăn là cá, ốc, tépSinh trưởng</b> :
      Từ ấu trùng đến trưởng thành cua phải qua nhiều lần lột xác và qua mỗi lần lột xác thì thay đổi về kích thước và hình thái cấu tạo thực thụ của cua.
      Ở giai đoạn ấu trùng và cua bột thời gian giữa các lần lột xác thường ngắn từ : 2-3 ngày hoặc 3-5 ngày. Ở giai đoạn cua trưỏng thành thường lột xác vào chu kỳ của thuỷ triều (đầu con nước).
      Điều kiện môi trường sống :
      pH :Cua sống vùng nước lợ có độ pH trong khoảng 7.5 – 9.5, thích hợp nhất là 7.5 – 8.2. Tuy nhiên cua có thể chịu đựng được trong nước có độ pH thấp hơn 6.5
      Độ mặn :Cua có khả năng thích ứng cao với sự0</sub>.
      Nhiệt độ nước :Cua biển phân bố rất rộng và ở những vùng vĩ tuyến cao cua chịu đựng nhiệt độ nước thấp tốt. Ở vùng biển phía nam nước ta cua biển thích nghi với nhiệt độ nước từ 25 – 29<sup>0</sup>C. Nhiệt độ cao thường ảnh hưởng xấu đến các hoạt động sinh lý của cua, là một trongNơi cư trú</b> :Cua thích sống ở nơi có nhiều thực vật thuỷ sinh, có những vùng bán ngập, có bờ để đào hang, tìm nơi trú ẩn, nhất là thời kỳ lột xác. Vùng rừng ngập mặn cửa sông ven biển có nhiều cua sinh sống.
      2. Kỹ Thuật Nuôi :
      Xây dựng ao nuôi :
      Ao nuôi cua con thành cua thương phẩm thường có diện tích từ 500m<sup>2</sup> đến 5000m<sup>2</sup>. Đây là hình thức nuôi thâm canh : thả giống, cho ăn tích cực, chăm sóc quản lý chặt chẽ.
      Địa điểm : Ao nuôi cần được xây dựng ở vùng dễ thay nước nhờ vào thuỷ triều để giảm chi phí. Ở những vùng có nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, ít sóng gió mạnh và dòng chảy lớn. Bờ ao được đắp bằng đất (cũng có thể xây gạch nếu có khả năng đầu tư), bờ cần được nén kỹ để chóng mội, rò rỉ và sạt lỡ. Chân bờ ao rộng từ 3-4m, chiều cao từ 1.5 đến 2m, cao hơn mực nước triều cao nhất ít nhất là 0.5m. Mỗi ao nuôi nên có hai cống ở hai đầu đối diện nhau, nếu ao hình chữ0</sup>, đăng phải cao từ0.8-1m.
      Tuỳ theo độ phèn của đáy ao mà có cách xử lý cho phù hợp, nếu pH của đất dưới 6 thì rải vôi bột (CaCO<sub>3</sub>) cho đáy ao: tháo cạn nước rải vôi đều trên đáy ao, cả lòng kênh và mép bờ ao. Lượng vôi rải từ 7-10 kg/100m<sup>2</sup> ao. Phơi đáy ao 2-3 ngày, sau đó cho nước ra vào 3-4 lần xả sạch nước phèn.
      Độ mặn của nước : cua con trong giai đoạn sinh trưởng sống ở vùng nước lợ mặn 15- 25%<sub>0</sub>. Tuy vậy cua chịu sự thay đổi độ mặn rất lớn, cua sống và phát triển tốt ở độ mặn 5%<sub>0 </sub>đến 30%<sub>o</sub>.
      Thả giống :
      Nguồn cua giống cung cấp cho nghề nuôi cua chủ yếu dựa vào nguồn giống tựMật độ thả:</b>
      Cua nhỏ 3-5 con/m<sup>2</sup>, loại vừa 2-3 con/m<sup>2</sup>, cỡ lớn 0.5-1 con/ m<sup>2</sup>. Thả giống ở nhiều điểm khác nhau trong ao. Cắt bỏ dây buộc, buông từ từ cua trên mép bờ để cua tự bờ xuống nước. Đây là cách để kiểm tra tình trạng sức khoẻ của cua : những con khoẻ mạnh nhanh chóng chạy xuống nước, những con yếu thường nằm tại chổ hoặc chậm. Những con như vậy thu lại cho vào giai đểtheo dõi, nếu phục hồi thì thả xuống ao. Mỗi ao nên thả giống trong một hai ngày cho đủ số lượng.
      Quản lý, chăm sóc :
      Cho ăn : cua nuôi trong ao chủ yếu dựa vào thức ăn cung cấp hàng ngày, lượng thức ăn tự nhiên trong ao không có nhiều. Thức ăn chủ yếu là thức ăn tươi sống : cá vụn, còng, ba khía, đầu cá … Lượng thức ăn hàng ngày khoảng 4 – 6% trọng lượng cua, cua thường hoạt động bắt mồi vào buổi tối. Mỗi ngày cho cua ăn một lần vào thời gian từ 17 – 19h. Thức ăn được rải đều quanh ao để cua khỏi tranh nhau. Có thể dùng sàng ăn để kiểm tra sức ăn của cua. Định kỳ thu mẫu để tính sản lượng cua có trong ao mà điều chỉnh lượng thức ăn cho vừa đủ. Sau 2-3 giờ cho ăn kiểm tra sàng ăn, nếu cua ăn hết thức ăn trong sàng thì có thể tăng lượng thức ăn, nếu thức ăn vẫn còn thì giảm lượng thức ăn.
      Hàng ngày phải cho cua ăn, không được để cua đói. Những cua lớn bị đói sẽ giết những cua nhỏ ăn thịt. Vì vậy nuôi cua phải có thức ăn dựThu hoạch :</b>
      Đánh thử cua lên kiểm tra chất lượng. Cua thường phẩm phải đạt 250g/con trở lên. Cua chắc thịt hoặc đã đầy gạch (cua cái). Khi thấy cua đã đạt tiêu chuẩn, được giá thì thu hoạch cua để bán.
      Những cua chưa đạt kích thước, trọng lượng, cua ốp hoặc chưa đầy gạch nếu còn khoẻ mạnh thì có thể đem nuôi ở các ao nhỏ, nuôi vỗ tích cực sau một thời gian đạt tiêu chuẩn thu hoạch bán sẽ được giá hơn.
      Nuôi cua thương phẩm từ cua con, thời gian từ 3 – 8 tháng thường tỉ lệ hao hụt tương đối lớn (40 – 60%) nhưng trọng lượng cua tăng từ 3 – 4 lần (tăng từ 60-80g/con lên 250-350g/con). Tổng trọng lượng của cua thương phẩm tăng từ 1.5 – 2 lần tổng trọng lượng cua giống.
      Một số điểm cần chú ý để nuôi cua thành công :
      - Cua giống phải đồng cỡ, thả cùng một lúc;
      - Phải có đủ nguồn nước trong sạch để thay thường xuyên;
      - Phải có đủ nguồn thức ăn tươi sống;
      - Phải có đăng chắn ở trên bờ ao;
      - Trong ao phải có các ụ chà làm nơi trú ẩn cho cua.
      Nguyễn Thanh Bình
      Theo Khuyến ngư Kiên Giang
       
      Guest

      Tác giả: Guest

      Guest


      Bài viết liên quan
      Đang tải...
    2. 0 Bình luậnĐăng bình luận