• KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG CÁ TRA VÀ CÁ BA SA(PHẦN II)

    Thảo luận trong 'Nuôi cá' , 21/6/07

    1. KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG CÁ TRA VÀ CÁ BA SA(PHẦN II)

      Thảo luận trong 'Nuôi cá' , 21/6/07
      2. Kỹ thuật cho cá đẻ nhân tạo
      2.1. Công trình phục vụ cho cá đẻ nhân tạo
      2.2. Mùa vụ sinh sản
      2.3. Chọn cá bố mẹ cho đẻ
      2.4. Sử dụng chất kích thích sinh sản (kích dục tố ) và phương pháp tiêm cho cá
      2.5. Vuốt trứng và thụ tinh
      2.6. Khử tính dính của trứng
      2.7. Trứng không khử dính
      2.8. Ấp trứng
      3. Kỹ thuật ương nuôi cá tra giống
      3.1. Nhu cầu thức ăn của cá sau khi hết noãn hoàng
      3.2. Kỹ thuật ương nuôi
      3.3. Thu họach và vận chuyển cá giống 

      <a name="h2">2</a></b><a name="h2">. Kỹ thuật cho cá đẻ nhân tạo</a><a name="h21">2.1</a></b><a name="h21">. Công trình phục vụ cho cá đẻ nhân tạo</a>
      Bể cá đẻ:

      ) và phù hợp với cỡ cá bố mẹ cho đẻ.

      -</b> LH-RHa, viết tắt của <i>Lutenizing Hormon-Releasing Hormon analog</i>, là hormon tổng hợp và được sử dụng rộng rãi cho cá và động vật nói chung. Thuốc sản xuất ở nhiều nước, của Trung quốc sản xuất được đóng gói trong lọ thủy tinh với lượng chứa 200, 500, 1000 m
                  -</b> </b> <b>LH-RHa, viết tắt của <i>Lutenizing Hormon-Releasing Hormon analog</i>, là hormon tổng hợp và được sử dụng rộng rãi cho cá và động vật nói chung. Thuốc sản xuất ở nhiều nước, của Trung quốc sản xuất được đóng gói trong lọ thủy tinh với lượng chứa 200, 500, 1000 m
                  -</b> </b></u>:

                   + Nếu phối hợp giữa HCG và não thùy, liều tiêm sơ bộ 300-500UI hoặc 0,5 mg não thùy/kg; liều quyết định 1000 UI + 2mg não thùy/kg . Với cá đực liều lượng bằng 1/3-1/2 của cá cái.
      <u></u>+ Phối hợp giữa HCG và não thùy, liều tiêm sơ bộ 500UI/kg hoặc 0,5 mg não thùy/kg; liều quyết định 1000 UI + 2mg não thùy/kg . Với cá đực liều lượng bằng 1/3-1/2 của cá cái.


      0</sup> so với thân cá, bơm thuốc nhanh nhưng không vội vàng và rút ra từ từ để tránh thuốc bị trào ra ngoài.
      <a name="h25">2.5</a>
      <a name="h25">. Vuốt trứng và thụ tinh </a>

      sức sinh sản tương đối thực tế. </i>Sức sinh sản tương đối thực tế của cá tra trong khỏang 90-130.000 trứng và cá ba sa là 10-12.000 trứng (cho 1 kg cá cái). Trong thực tế, lượng trứng vuốt được của những cá thể cái rụng trứng róc, cũng chỉ chiếm từ 70-80% số trứng có trong buồng trứng.

      <a name="h26">2.6</a></b><a name="h26">. Khử tính dính của trứng</a>

      Có thể dùng một số hoạt chất như tanin (có vị chát), men bromelin (tìm thấy trong nước ép qủa dứa), sữa bột v.v để khử tính dính của trứng cá tra và ba sa. Cách thông dụng nhất hiện nay là dùng tanin pha với nước thành nồng độ 0,1%. Sau khi cho chất khử dính vào trứng ta dùng lông gà khuấy đều trong khoảng 30 giây thì ta chắt nước đó ra và dùng nước sạch rửa trứng nhiều lần cho sạch, sau đó cho trứng vào bình vây hoặc bể vòng để ấp. (Ananas sativa)</i> gọi là chế phẩm bromelin thô, để khử dính. Với 25ml nước ép quả dứa pha thêm nước để thành 1 lít dung dịch khử dính, dung dịch này có chứa bromelin (một lọai enzyme phân giải protein). Ðổ dung dịch vào trứng đã thụ tinh, khuấy đều trong khỏang 1 phút, chắt bỏ dung dịch khử dính rồi cho nước lã vào rửa sạch trứng và đem ấp.
       2.7. Trứng không khử dính Nếu trứng không khử dính thì ta cho trứng dính vào giá thể. Giá thể có thể là rễ bèo tây (lục bình), xơ dừa, xơ nylon, có thể làm bằng lưới nilon hoặc lưới vèo (sợi cước nhỏ) căng trên một cái khung vuông, mỗi cạnh dài 35-40cm. Trước khi sử dụng phải rửa sạch, tẩy trùng để diệt hết các vi khuẩn và nấm có hại cho trứng. Khi trứng đã thụ tinh xong, đặt giá thể ngập 3-5cm trong nước, dùng lông gà vẩy đều để trứng bám dính ngay lên bề mặt giá thể. Giá thể có dính trứng được đặt trong bể ấp có nước chảy liên tục và hỗ trợ thêm sục khí.</a>
      <a name="h28">2.8</a></b><a name="h28">. Ấp trứng</a></b>
      + Ấp trứng khử dính: ấp trong bình vây thủy tinh, nhựa trong suốt có thể tích 5-10 lít hoặc bình vây composite 600-1000 lít, mật độ ấp trứng cá tra 20.000-30.000 trứng/lít, trứng cá ba sa 500 trứng/lít.          + Ấp trứng không khử dính chủ yếu cho cá tra, ấp trong bể vòng hoặc bể composite có nước chảy liên tục, mật độ 4000-5000 trứng/lít. Ấp trong bể nước tĩnh thay đổi chậm, có sục khí, mật độ ấp 1500-2000 trứng/lít.
      0</sup> C. Nhiệt độ càng cao thì phôi phát triển nhanh, nhưng nếu nhiệt độ quá cao thì phôi dễ bị dị hình, cá sau khi nở có sức sống yếu, khi nhiệt độ nước ấp trên 32<sup>0</sup>C thì phôi bị chết. Ngược lại nếu nhiệt độ quá thấp thì phôi phát triển chậm, thời gian ấp nở kéo dài hơn, nhiều phôi bị dị hình. Nếu nhiệt độ thấp hơn 24<sup>0</sup>C thì phôi ngừng phát triển và chết. Thời gian ấp để trứng nở thành cá bột ở nhiệt độ nước 28-30<sup>0</sup>C, của cá tra là 22-24 giờ, của cá ba sa là 30-33 giờ. Thời gian để cá nở hết tòan bộ có khi kéo dài hơn 1-2 giờ tùy theo nhiệt độ và khoảng cách giữa các lần thụ tinh của trứng đưa vào bể ấp. Khi cá bắt đầu nở, cần tăng lưu lượng nước qua bể ấp đẩy nhanh vỏ trứng và các chất thải ra ngòai. Theo dõi khi cá đã nở hết phải vớt giá thể đi.
      - Quản lý và thu cá bột:


      moina, daphnia</i> hoặc tốt nhất là ấu trùng <i>artemia. </i>
      0</sup>C.

      3. Kỹ thuật ương nuôi cá tra giống</a>
      <h2 style="MARGIN: 0px; WORD-SPACING: 0px; TEXT-INDENT: 0px; LINE-HEIGHT: 150%" align="justify">3.1. Nhu cầu thức ăn của cá sau khi hết noãn hoàng</a></h2>
                Sau khi hết noãn hoàng, cá tra bột thích ăn mồi tươi sống, có mùi tanh. Những thức ăn ưa thích của cá tra bột là: cá bột các loài (như <i>mè vinh, he, rô đồng</i> .), các loài giáp xác thấp (<i>moina, daphnia</i>, còn gọi là trứng nước), ấu trùng <i>artemia</i>. Chúng vẫn ăn lẫn nhau nếu ta không kịp thời cung cấp thức ăn cho chúng.
                Biện pháp giải quyết tốt nhất là phải tạo được một lượng thức ăn tự nhiên có sẵn và đầy đủ trong ao ương trước khi thả cá bột, nhằm đáp ứng đủ nhu cầu ăn của cá, hạn chế được sự ăn lẫn nhau của chúng.

                Cũng dễ dàng thích hợp với các thức ăn là động vật giáp xác thấp <i>(moina, daphnia, </i><i> artemia.)</i>, dễ thích nghi với các lọai thức ăn khác nhau có nguồn gốc động vật, hoặc thậm chí ăn cả thức ăn viên với cỡ viên phù hợp. Cũng như ương cá tra, việc tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong ao cho cá ba sa vào giai đọan đầu mới thả xuống ao là rất quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá hương, cá giống ương nuôi.
      3.2. Kỹ thuật ương nuôi</a><a name="h32"> </a>

      Ao có diện tích lớn nhỏ tùy theo khả năng từng hộ gia đình và cơ sở sản xuất giống, nhưng càng lớn càng tốt và không nên quá hẹp (dưới 200 m<sup>2</sup>). Ðộ sâu nước thích hợp 1,2 -1,5 m. Nguồn nước cấp cho ao phải sạch và chủ động.

      3</sup> nước ao.
          
           +Bón vôi : rải đều đáy và mái bờ ao, lượng dùng 7-10 kg/100m<sup>2</sup>
                + Phơi đáy ao 1-2 ngày, chú ý những vùng ảnh hưởng phèn (pH thấp) thì không nên phơi đáy ao, vì sẽ làm cho phèn dễ theo mao mạch thoát lên tầng mặt
                + Bón lót cho ao bằng bột đậu tương và bột cá, liều lượng mỗi lọai 0,5kg/100m<sup>2</sup> đáy ao.
           + Lọc nước vào ao từ từ qua lưới lọc mắt dày, mực nước sâu 0,3-0,4 m
                + Thả giống trứng nước và trùng chỉ (0,5-1 kg trứng nước và 2kg trùng chỉ cho 100 m<sup>2</sup> đáy ao)
           + Sau một ngày, tiếp tục đưa nước vào ao ngập đến 0,7-0,8 m
          
                + Tiếp tục đưa nước vào ao, từ từ sau 2 ngày đến đủ chiều sâu nước yêu cầu

      2</sup>, cá ba sa 50-100 con/m<sup>2</sup>. Ương trong bể xi măng, mật độ cá ba sa 400-500 con/m<sup>2</sup>

            Lượng dùng : Cứ 10.000 cá thả trong ao, dùng 20 lòng đỏ trứng vịt, 200 gam đậu nành được xay nhuyễn và nấu chín, cho ăn mỗi ngày từ 4-5 lần. Sau 10 ngày, khi cá đã bắt đầu ăn móng (nổi lên đớp khí), tăng thêm 50% lượng trên và bổ sung thêm trứng nước và trùng chỉ. Lúc này đã có thể cho ăn dặm thêm bằng cá tươi xay nhuyễn và bắt đầu cho ăn thức ăn chế biến gồm cám trộn bột cá hoặc cá xay nhuyễn, nấu chín và đưa xuống sàng ăn (cám+ bột cá: tỉ lệ hoặc cám + cá tươi: tỉ lệ 1/3). Khẩu phần ăn 5-7% mỗi ngày.

      + Ương cá giống : tiếp tục ương 40-50 ngày, cá đạt cỡ chiều dài thân 8-10cm, chiều cao thân 2 cm.+ Ương cá giống lớn : ương thêm 30-40 ngày, cá đạt cỡ chiều dài 16-20cm, cao thân 3 cm.
      Ðối với cá ba sa, thức ăn trong 2 tuần đầu cũng giống như với cá tra. từ tuần thứ ba cho ăn thức ăn tự chế biến gồm cám và bột cá tỷ lệ 20% cám và 80% bột cá, cộng thêm 1% premix khóang và vitamin C 10mg/100kg thức ăn. Thức ăn được nấu chín và đưa xuống sàng ăn, khẩu phần ăn hàng ngày 5-7% thể trọng cá, mỗi ngày cho ăn 3-4 lần.
                
      moina, daphnia</i> hoặc <i>ấu trùng artemia</i>, theo dõi và cung cấp thức ăn theo mức ăn của cá. Nhất là cho ăn <i>ấu trùng artemia</i> phải cho vừa đủ vì <i>ấu trùng artemia</i> chỉ sống được trong nước ngọt từ 1-2 giờ, sau đó bị chết. Từ tuần thứ 2 trở đi cho ăn phối hợp trùng chỉ <i>(Limnodrilus hoffmoistery)</i> với thức ăn viên công nghiệp. Kích cỡ viên thức ăn ban đầu là 1mm, sau đó tăng dần theo tuổi cá. Khẩu phần ăn thức ăn viên từ 1-2% thể trọng kèm theo lượng trùng chỉ 1 kg (2 lon sữa ) cho 10.000 cá.
      Quy cỡ cá hương, giống cá tra khi thu họach như sau:

      <a name="h33">3.3</a><a name="h33">. Thu họach và vận chuyển cá giống:</a>         Bảng 3-  Mật độ vận chuyển cá trong túi nylon bơm o-xy</b>
      Mật độ (con/lít)

      80

      20

      70

      <font face="A
       
      Guest

      Tác giả: Guest

      Guest


      Bài viết liên quan
      Đang tải...
    2. 0 Bình luậnĐăng bình luận