• Dismiss Notice

    Kỹ thuật ươm nuôi cá rô đồng và cách phòng trị bệnh

    Thảo luận trong 'Nuôi cá' , 20/7/07

    1. Guest Guest

      Rô đồng là loài cá dữ, ăn tạp, nhưng nghiêng về động vật...


      <i>Đặc điểm sinh học</i>
      <i>1. Dinh dưỡng </i><i></i>

      Rô đồng là loài cá
      dữ, ăn tạp, nhưng nghiêng về động vật. Tính dữ được thể hiện khi trong
      đàn có cá chết, những con sống sẽ tấn công ăn thịt con chết, hoặc trong
      giai đoạn cá giống khi thiếu thức ăn những con cá lớn sẽ ăn cá nhỏ, đây
      là một trong những nguyên nhân làm giảm tỷ lệ sống của cá.
      <li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Cá
      rô ăn: tôm, tép, cá con, phù du phiêu sinh vật, động vật không xương
      sống, côn trùng bay trong không khí, hạt cỏ, thóc; các phụ phẩm nông
      nghiệp như: cám, gạo, các phế phẩm nhà máy chế biến thủy sản… </li></ul>
      <i>2. Sinh trưởng:</i> Cá rô có tốc độ sinh trưởng tương đối chậm, sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng từ 60 – 100 g/con.

      <i>3. Sinh sản:</i> Ngoài
      tự nhiên cá có tập tính sinh sản vào mùa mưa. Đầu mùa mưa cá di chuyển
      từ nơi sinh sống đến những nơi vừa ngập nước sau những cơn mưa lớn đầu
      mùa như ruộng, ao, đ ì a… nơi có mực nước 30 – 40 cm để sinh sản. Cá rô
      đồng không có tập tính giữ con.

      Khi chiều dài 12 cm
      cá rô tham gia sinh sản lần thứ nhất, sức sinh sản cá cao đạt 30-40 vạn
      trứng/kg cá cái. Trứng cá thuộc loại trứng nổi và có màu vàng.

      <ul type="disc"><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal"><i>Kỹ thuật sinh sản cá rô<o:p /></i></li></ul>
      <i>1. Nuôi vỗ cá bố mẹ </i><i><o:p /></i>

      <i>a. Ao nuôi vỗ </i><o:p />

      <ul type="disc"><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Có diện tích từ vài
      chục đến 300 m 2 ; có thể nuôi vỗ trong bể xi măng, nhưng ở diện tích
      quá nhỏ số lượng cá nuôi không nhiều, hiệu quả kinh tế không cao, ao
      quá lớn khi đ á nh bắt cá cho đẻ thu không hết cá thành thục gây lãng
      phí. </li><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Ao nuôi vỗ phải chủ động cấp thoát nước vì môi trường nuôi vỗ dễ bị ô nhiễm do cung cấp thức ăn. </li><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Quanh bờ ao có lưới chắn cao cách mặt đất 0,2 - 0,3m giữ không cho cá ra ngoài. </li><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Trước khi nuôi vỗ,
      ao phải được cải tạo bằng các biện pháp như: bơm cạn nước, bắt hết cá
      tạp, lấp hang mọi, nạo vét bùn đ á y ao nhưng còn chừa lại lớp bùn dày
      15 – 20 cm, vệ sinh sạch cây cỏ quanh bờ ao, bón vôi 7 – 10 kg/100 m 2
      . </li><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Sau khi phơi ao từ 3
      – 5 ngày tiến hành lấy nước vào, nước phải lọc qua lớp lưới nhằm ngăn
      không cho cá tạp theo nước vào ao, 3 ngày sau có thể tiến hành thả cá
      nuôi vỗ. </li></ul>
      <i>b. Cá bố mẹ:</i><i> </i>Cá mập, khỏe, không dị hình, có trọng lượng từ 50 – 100 g/con.

      <i>c. Tỷ lệ cá đực/cái:</i><i> </i>Cá thả nuôi theo tỷ lệ 1 cá đực: 1 cá cái. Cá đực, cái nuôi chung.

      <i>d. Mật độ:</i><i> </i>Cá được nuôi với mật độ 1 kg/m 2 .

      <i>e. Thức ăn </i><o:p />

      <ul type="disc"><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Thành phần: cám 50% + bột cá 50%, có thể thay bột cá bằng cá tươi xay nhuyễn hay cá phế phẩm từ nhà máy chế biến thủy sản. </li><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Khẩu phần: 5 – 7% so với trọng lượng đàn cá/ ngày. </li><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Cách cho ăn: thức ăn
      được kết dính bằng bột gòn theo tỷ lệ 10 kg thức ăn trộn với 50 g bột
      gòn, cho nước vào và vò thành viên đặt trong sàn ăn. Sàn ăn được đặt cố
      định quanh bờ ao, khoảng cách giữa hai sàn ăn là 7 – 10 m. Mỗi ngày cho
      ăn 2 lần, sáng sớm và chiều mát. </li></ul>
      <i>f. Thay nước </i><o:p />

      <ul type="disc"><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Thức ăn có nguồn gốc
      động vật chiếm tỷ lệ cao nên môi trường ao nuôi dễ bị nhiễm bẩn, do đ ó
      ao nuôi tốt nhất thay nước theo thủy triều hàng ngày, những ao xa khó
      lấy nước, định kỳ 7 - 10 ngày thay 1/2 lượng nước. </li><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Sau 3 tháng nuôi vỗ, có thể tiến hành cho cá sinh sản được. </li></ul>
      <i>2. Cho cá rô sinh sản </i><i><o:p /></i>

      <i>a. Tiêu chuẩn cá bố mẹ:</i><i> </i>Dựa vào các dấu hiệu ngoại hình như sau:

      <ul type="disc"><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Cá đực: mình thon
      dài, dùng tay vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục có sẹ màu trắng đặc quánh chảy
      ra là cá đủ tiêu chuẩn cho sinh sản, nếu sẹ chảy ra lẫn nước loãng hoặc
      không có sẹ chảy ra là cá không đủ tiêu chuẩn cho đẻ. </li><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Cá cái: bụng cá to
      nhô ra hai bên hông của cá, khi dùng tay vuốt nhẹ phần bụng có cảm giác
      mềm đều và lỗ sinh dục của cá có màu hồng. </li><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Sau khi lựa xong, đưa cá vào bể hoặc thau nước sạch cho cá khỏe 2 – 3 giờ trước khi tiêm kích dục tố cho cá đẻ. </li></ul>
      <i>b. Kích dục tố </i><o:p />

      - Loại kích dục tố:
      sử dụng phổ biến và có tác dụng gây rụng trứng cá là HCG (Human
      Chorionic Gonadotropin) và LHRHa + Dom (Lutenizing Hormon Releasing
      Hormon Analog + Domperidone).

      - Liều lượng tiêm:

      + Cá cái: - HCG tiêm 3.000 – 4.000 UI/kg

      - LHRHa 80 – 100 mg/kg

      + Cá đực: liều tiêm cá đực bằng 1/2 liều tiêm cá cái.

      - Vị trí tiêm: tiêm vào phần xoang cơ ở gốc vi ngực hoặc phần cơ ở gốc vi lưng.

      - Số liều tiêm: tiêm một liều.

      - Thời điểm tiêm: tùy
      thuộc vào việc chọn thời điểm cho cá đẻ. Nếu muốn cho cá đẻ vào ban
      ngày, tiêm vào buổi sáng (6 – 7 giờ); cho cá đẻ vào ban đ ê m, tiêm
      kích dục tố vào buổi chiều hoặc tối (18 – 20 giờ).

      <i>c. Phương tiện cho cá đẻ </i><o:p />

      <ul type="disc"><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Có thể cho cá đẻ trên bể xi măng có diện tích vài m2, chiều sâu mức nước 0,2 – 0,5m, hoặc cho đẻ trong thau có thể tích 20 lít. </li><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Bể hoặc thau bố trí cho cá đẻ phải đặt nơi yên tĩnh, thoáng mát và có mái che nếu cho cá đẻ vào ban ngày. </li></ul>
      <i>d. Bố trí cho cá đẻ:</i><i> </i>Sau
      khi tiêm kích dục tố xong thả cá vào bể hoặc thau đã vệ sinh và cho
      nước sạch vào, có thể bố trí cho đẻ với nhiều cặp cá bố mẹ trên cùng
      một bể xi măng hoặc bố trí riêng từng cặp trong thau.

      <i>e. Tỷ lệ đực/cái:</i><i> </i>Bố
      trí 1 cá đực cho 1 cá cái, trường hợp cá đực nhiều có thể bố trí 3 cá
      đực cho 2 cá cái, cá đực nhiều rất tốt cho sự thụ tinh.

      <i>f. Mật độ:</i><i> </i>Có thể thả chung 3 – 4 kg/m 3 nước hoặc cho 1 - 2 cặp cá vào trong một thau.

      <i>g. Các dấu hiệu nhận biết cá sinh sản hay không:</i><i> </i>Khi
      thả cá vào bể đẻ nếu sau 2 – 3 giờ cá rượt đuổi nhau, mặt nước gợn sóng
      là dấu hiệu cá sẽ đẻ, lúc này cần theo dõi cá nhảy ra ngoài do những
      con chưa sẵn sàng tham gia sinh sản phải bắt thả trở lại; ngược lại cá
      không rượt đuổi nằm im một chỗ, đây là dấu hiệu cá sẽ không đẻ.

      <i>h. Thời gian hiệu ứng </i><o:p />

      <ul type="disc"><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Trong điều kiện nhiệt độ 26 – 28 o C cá sẽ đẻ sau khi tiêm kích dục tố 8 – 10 giờ. </li><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal">Dấu hiệu cá đẻ xong:
      khi thấy cá không còn rượt đuổi bắt cặp, cá nằm im hoặc bơi phân tán,
      lúc này tiến hành thu trứng chuyển đi ấp. </li></ul>
      <i>3. Ấp trứng </i><i><o:p /></i>

      <i>a. Bể ấp </i><o:p />

      - Có thể dùng bể xi
      măng hoặc thau cho cá đẻ để ấp trứng. Dụng cụ ấp trứng phải vệ sinh
      sạch, đặt nơi thoáng mát để dễ chăm sóc và quản lý. Cá sinh sản xong,
      tiến hành dùng vợt bằng lưới mùng vớt trứng chuyển qua thau hoặc bể
      khác có nước sạch để ấp.

      - Nếu dùng bể, thau
      vừa cho cá sinh sản xong để ấp, phải chuyển trứng và cá bố mẹ sang nơi
      khác, vệ sinh sạch cho nước mới vào và cho trứng vào ấp. Trường hợp
      không có phương tiện dự phòng để chuyển trứng đi, sau khi chuyển cá bố
      mẹ về ao nuôi vỗ, có thể thay 2/3 thể tích nước cũ và tiến hành ấp
      trứng. Hình thức này trứng bị hao hụt do việc di chuyển cá bố mẹ đi sẽ
      làm bể trứng và điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo.

      <i>b. Nước sử dụng:</i><i> </i>Sử
      dụng nước sông hoặc nước máy đều phải để lắng sau 24 giờ vì nếu sử dụng
      trực tiếp nước sông phù sa sẽ ảnh hưởng đến hô hấp của phôi, nước máy
      có chất sát trùng làm chết phôi.

      <i>c. Mật độ ấp </i><o:p />

      - 3.000 trứng/lít nước trong điều kiện nước tĩnh.

      - 6.000 trứng/ lít nước có sục khí.

      <i>d. Chăm sóc trứng:</i><i> </i>Trong
      suốt quá trình ấp trứng không thay nước. Nếu trường hợp ấp không có sục
      khí mà tỷ lệ trứng không thụ tinh (trứng có màu trắng đục) cao có thể
      làm nhiễm bẩn môi trường do trứng ung, trường hợp này xảy ra thay ½
      lượng nước, ngược lại nếu có sục khí không cần thay nước.

      <i>e. Thời gian nở:</i><i> </i>Ấp trứng trong điều kiện nhiệt độ 26,5 – 28 o C sau 17 giờ 30 cá sẽ nở, 3 ngày sau khi cá nở chuyển đi ương.

      <ul type="disc"><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal"><i>Kỹ thuật nuôi các rô đồng từ bột thành giống<o:p /></i></li></ul>
      <i>1. Điều kiện bể ương </i><i><o:p /></i>

      <i>a. Ao đất </i><o:p />

      Diện tích:
      Cá rô có thể sống và phát triển tốt trong điều kiện diện tích lớn hay
      nhỏ. Nếu sử dụng ao có diện tích quá nhỏ hiệu quả kinh tế kém và khó
      tạo ổn định môi trường, nhưng ao quá lớn chăm sóc quản lý phức tạp, do
      đó nên chọn ao ương có diện tích từ 300 – 1.000 m 2 .

      Điều kiện ao ương: Ao
      phải có cống chủ động cấp thoát nước khi cần, chiều sâu mức nước trong
      ao từ 1,2 - 1,5 m; mặt ao thoáng để không ngăn cản ánh sáng mặt trời
      chiếu vào nước tạo điều kiện cho phiêu sinh vật phát triển, đây là loại
      thức ăn tự nhiên rất tốt cho sự phát triển của cá con. Trên bờ ao không
      có bụi rậm để các loài địch hại như rắn, ếch… không nơi ẩn nấp hạn chế
      việc sát hại cá ương nuôi.

      Trước khi thả cá ương
      nuôi tiến hành cải tạo ao bằng các biện pháp giống như ao nuôi vỗ cá bố
      mẹ, nhưng sau khi lấy nước vào 1/3 ao phải tiến hành bón phân tạo màu
      nước bằng 3 loại phân:

      <i>1. Phân vô cơ:</i><i> </i>Sau khi lấy nước vào ao đủ yêu cầu tiến hành bón phân đạm urê và super phosphate:

      + Tỷ lệ N/P=2/1

      + Liều lượng 200 g/100 m3 nước.

      + Cách bón: hòa tan phân trong nước và rải đều khắp mặt ao.

      <i>2. Phân xanh: </i>Gồm những loại lá cây họ đậu hoặc lá so đũa.

      + Liều lượng: 10 – 15 kg/100 m2 ao.

      + Cách bón: sau khi
      cho nước vào ao đủ yêu cầu, bón phân xanh làm nhiều bó và dùng cây dìm
      xuống đáy ao không cho nổi lên mặt nước.

      <i>3. Bón phân chuồng</i>: Ủ cho hoai mục

      - Hàng ngày kiểm tra tình hình hoạt động của cá để phát hiện sớm nếu có dịch bệnh xảy ra.


      <ul type="disc"><li style="margin: 0in 0in 0pt;" class="MsoNormal"><i>Thu hoạch<o:p /></i></li></ul>
      + Dùng kháng sinh có chứa Oxytetracyline, trộn vào thức ăn cho cá ăn liên tục 5 ngày.
      <i> Theo Khuyến Ngư Kiên Giang<o:p /></i>
       
      Last edited by a moderator: 9/3/14
      Đang tải...

    Chia sẻ trang này

    Đang tải...
    Đang tải...