• Mong các bác giúp đở...

    Thảo luận trong 'Mô hình nông nghiệp phối hợp' , 28/5/12

    1. Quách Huy Nhà nông nghiệp dư

      Em sống ở SG được 2 năm rồi, thấy chán quá muốn về quê sống cho an nhàn mà đở bon chen nửa các bác ạ. Quê em ở miệt Cà Mau xa cùng của bản đồ. Ở quê em người ta quen rồi với cái tôm cái tép, chủ yếu sống bằng nuôi trông thuỷ hải sản các bác ạ.
      Mà em nói thật con tôm sao ma thấy nó mong manh quá à. Em đang tính về quê nuôi cá các bác ạ, em tìm tài liệu về loài cá chẽm ở quê chắc nhiều bác cũng biết. Em muốn nuôi thương phẩm mà kinh nghiệm chưa có nên hơi lo. Hiện tại em có 10 công đất ruộng vốn thì hơi ít mới 50tr à. Các bác tư vấn giúp em nghe cho yên cái bụng với...
      Mong các bác giúp đỡ..
       
      1 person likes this.
      Đang tải...
    2. tam01ct

      tam01ct Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      68
      Đã được thích:
      6
      Nghề nghiệp:
      CHĂN NUÔI THỎ
      chào ah. tôi ở CẦN THƠ.
      tôi có trang trại thỏ. với 500 nái. nuôi cách đây trên 10 năm. nghề nuôi thỏ hiện nay đang phát triễn mạnh. sao ah ko thử tìm hiểu cách nuôi thỏ xem sao?. đầu ra thì tôi bao tiêu hết. chỉ cần có xe đò mà gửi thì đến đâu cũng làm ăn được hết.
      tôi gửi cho ah tài liệu KỸ THUẬT NUÔI THỎ mà tôi tìm hiểu qua sách và kinh nghiệm thực tiễn, nếu thử tìm hiểu thì ban đầu có thể nuôi ít để có kinh nghiệm. chúc ah thành công

      Bán thỏ giống, thỏ thịt -cần thơ
      NƠI CUNG CẤP THỎ GIỐNG, THỎ THỊT ĐÁNG TIN CẬY.</SPAN>
      ĐỊA CHỈ: KV. BÌNH THƯỜNG B, P.LONG TUYỀN, Q.BÌNH THỦY, TP. CẦN THƠ.</SPAN>

      TRANG TRẠI “TƯ ĐỂ” CHUYÊN CUNG CẤP THỎ GIỐNG, THỎ THỊT. </SPAN>
      GIỐNG THỎ ĐANG ĐƯỢC NUÔI LÀ GIỐNG THỎ NEWZEALAND. Thỏ lai giữa THỎ NEWZEALAND với THỎ TA việt nam.


      THỎ ĐƯỢC NUÔI THEO HÌNH THỨC CÔNG NGHIÊP. 100% THỨC ĂN VIÊN. NÊN THỎ RẤT KHỎE TỈ LỆ THỊT CAO. THỎ LỚN NHANH. PHÙ HỢP CHO QUI MÔ CÔNG NGHIỆP.</SPAN>

      SỐ LƯỢNG THỎ HIỆN TAI TRÊN 500 THỎ CÁI. SẢN LƯỢNG HÀNG THÁNG CUNG CẤP TRÊN 2 TẤN THỊT.</SPAN>
      GIÁ BÁN:</SPAN>
      THỎ HƠI: 70.000D đ/kg
      THỎ GIỐNG:
      thỏ con 40 ngày tuổi: 80.000 đ/con
      loại 0.8-1.9kg: 150.000 đ/kg.
      loại từ 2kg- 2.9kg: 200.000 đ/kg.
      từ 3kg trở lên: 250.000 đ/kg.
      giá theo thị trường, cập nhật hàng ngày.
      </SPAN>
      CHÚNG TÔI SẴN SÀNG CHIA SẼ KINH NGHIỆM CHO CÁC HỘ NUÔI CÓ Ý ĐỊNH THÀNH LẬP TRANG TRẠI.</SPAN>
      RẤT HÂN HẠNH ĐƯỢC HỢP TÁC.</SPAN>
      SDT: 01674612634 (A.TÂM).</SPAN>
      Mail : tam_ct01@yahoo.com.vn



      KỸ THUẬT CHĂN NUÔI THỎ </SPAN>

      CHƯƠNG 1</SPAN>
      TẦM QUAN TRỌNG VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA THỎ</SPAN>

      I. VỊ TRÍ VÀ TẦM QUAN TRỌNG </SPAN>

      Thỏ nhà là gia súc được biết như là một loài ăn cỏ chuyển hoá một cách có hiệu quả từ rau cỏ sang thực phẩm cho con người. Đối với các hộ gia đình có vốn ít thì loài Thỏ được xem là “ CON HEO”. Thỏ có thể chuyển hoá 20% protein chúng ăn được thành thịt so với 16-18% ở heo và 8-12% ở bò thịt. Theo nhu cầu của thị trường ngày càng nhiều thì hình thức nuôi cỏ truyền thống không thể đáp ứng được thì mô hình nuôi theo hình thức công nghiệp hoàn toàn khả thi.</SPAN>
      Trên thế giới ngành chăn nuôi thỏ khá phát triển. Trong những thập niên 80 theo ước tính từ sự sản xuất thịt thỏ, mỗi năm một người tiêu thụ khoảng 200g thịt thỏ. Sản xuất thịt thỏ cao ở các nước Nga, Pháp, Ý, Trung Quốc, Anh, Mỹ, v..v…Một cách chung nhất nghề này phát triển mạnh ở Châu Âu và Châu Mỹ, tuy nhiên kém phát triển ở Châu Á và Châu Phi. Ở Châu Âu sự sản xuất và mua bán thịt thỏ và thỏ giống cũng tăng nhanh. Cụ thể là các nước Nga, Đức, Pháp, Đan Mạch, Hà Lan và Anh. Trung Quốc cũng là nước xuất khẩu thịt thỏ có uy tính ở thị trường Châu Âu. Thị trường da thỏ và lông len thỏ cũng mạnh mẽ đặc biệt là nhu cầu da xuất khẩu sang Anh, Nhật, Ý, Mỹ,…và lông len của thỏ Angora xuất sang Mỹ, Nhật và Đức từ các nước sản xuất chính như: Czechoslovakia, Đức, Anh, Tây Ban Nha, v.v… </SPAN>
      Ở Việt Nam mặc dù nghề chăn nuôi thỏ ở nước ta hiện nay nói chung còn rất mới và chưa phát triển so với các gia súc khác, tuy nhiên rải rác người dân cũng phát triển chúng từ thành thị đến nông thôn trên cả nước để cung cấp thịt cho cộng đồng người dân, các nhà hàng, quán ăn, cung cấp thỏ các phòng thí nghiệm, viện, trường học, dùng trong công tác nghiên cứu và giảng dạy, v..v... Trong tương lai gần với dân số ngày càng gia tăng, nhu cầu thực phẩm cho người dân ngày càng lớn, nhu cầu nghiên cứu khoa học và giảng dạy cũng tăng lên. Do vậy trong tương lai gần chúng sẽ phát triển thành một ngành chăn nuôi quan trọng. Việc đặt một nền tảng khoa học kỹ thuật để nhằm phát triển đàn thỏ ở Việt Nam có vai trò quan trọng đặc biệt.</SPAN>




      II . THỎ - CON HEO CỦA NHÀ NGHÈO</SPAN>
      Người nghèo, không ai dám có tham vọng nuôi heo để làm giàu, mà chỉ là cách…bỏ ống, nhịn ăn nhịn mặt chạy ăn cho heo, cuối năm bán được số tiền, coi như đó là tiền dành dụm. Đó cũng là cách “ giật gấu vá vai” chứ không có gì khác lạ.</SPAN>
      Hơn nữa, đã nghèo thì làm gì nuôi được nhiều heo, ngoài số tiền khá lớn để mua con giống, hàng ngày còn phải chạy ăn cho heo. Đó là chưa nói đến khoản tiền thuốc men phải bỏ ra khi heo bị trái gió trở trời…</SPAN>
      Nông dân nước pháp cũng nghĩ như vậy nên những người nghèo họ không nuôi heo mà quay sang nuôi thỏ và họ coi thỏ là con heo của người nghèo. Hơn nữa, thịt thỏ ở pháp được coi là món ăn khoái khẩu và đắt giá, nó nằm hàng đầu trong thực đơn của những nhà hàng sang trọng.</SPAN>
      Người pháp có món” civel de lapin” ( thỏ nấu rượu chát) nổi tiếng thế giới. Có thể nới người pháp nói riêng và người châu Âu, châu Mỹ nói chung, họ thích ăn thịt thỏ hơn cả thịt bò, thịt gà. Do đó, thỏ không bao giờ bị ế chợ và lúc nào cũng bán được giá cao.</SPAN>
      Nuôi thỏ, tiền mua thỏ giống không đáng là bao, nên ai nghèo túng quá cũng gắng mua được đôi ba cặp mà nuôi. Bước đầu khiêm tốn như vậy cũng được, sau này cứ mặt mà tăng bầy…hơn nữa, chuồng trại nuôi thỏ đóng với vật liệu rẻ tiền, đóng toàn tre hay gỗ cũng được. Đã thế, đóng chuồng cũng không cần cầu kỳ về kiểu dáng, chỉ cần người khéo tay một chút với vài thứ đồ nghề như cưa, đinh, búa, là ai cũng có thể đóng được. </SPAN>
      Nuôi thỏ còn lợi hơn nuôi heo, vì sự mắn đẻ của nó, mỗi lứa số con cũng nhiều. có nhiều con đẻ đến hơn chục con một lứa và tự nó nuôi sống đầy đủ. Thế nhưng không ai lại để cho một thỏ mẹ nuôi nhiều con đến như vậy, vì thỏ mẹ mau mất sức, có hại cho những lần sinh sản sau. Mỗi lứa, ta cho thỏ mẹ nuôi 7 con là vừa chừa. Thỏ mẹ có 8 vú, nuôi 7 con chừa 1 cái vú để khi nào có con nhỏ yếu thì còn dư 1 cái để ít cạnh tranh hơn, như vậy thỏ con mới lớn đều nhau, trong bầy không có con to, con nhỏ. Sự phân cỡ là rất quan trọng, khi trong bầy có con to con nhỏ thì sức bú hay sức ăn khác nhau điều này ảnh hưởng lớn đến tình trạng sức khỏe cũng như thể trạng sau này.</SPAN>
      Nuôi thỏ không phải chỉ có mỗi mục đích lấy thịt ăn, hay để bán thỏ thịt mà còn bán thỏ con, thỏ lứa để làm giống, vừa có giá trị cao vừa xoay vòng vốn được nhanh. Ngoài ra ta còn có thể sử dụng phân thỏ sử dụng cho các mục đích khác như: ủ phân hay cho cá ăn. Phân thỏ rất tốt, nếu làm thức ăn cho cá thì càng tuyệt vời. Nuôi theo hình thức công nghiệp thì thỏ chỉ hấp thụ 80% chất dinh dưỡng còn 20% còn lại thải ra phân. Nếu sử dụng phần phân thải này cho cá ăn thì cuối vụ ta hưởng được hai phần lợi nhuận. Bên cạnh đó phân thỏ có nhiều người ủ để nuôi trùng quế.</SPAN>
      Tóm lại nuôi thỏ có rất nhiều lợi, đã ít vốn lại kiếm được nhiều lời. Đó chưa kể đến mặt bằng không cần rộng, vì chuồng cho một con thỏ giống chỉ mất khoảng nửa mét vuông mà thôi.</SPAN>

      Đừng bỏ lỡ qua nguồn lợi lớn</SPAN>

      Xưa nay, phàm nuôi con vật gì có sinh sản mới cho ta nhiều lợi, trâu cái, heo nái… là những con vật sinh sản nhanh nên ai cũng thích nuôi. Thỏ là con vật mắn đẻ lại đẻ sai nên lại càng nên nuôi nhiều hơn nữa.</SPAN>
      Đừng nói chỉ ở châu Âu, châu Mỹ, nơi có truyền thống lâu đời về nuôi thỏ, mà các nước châu Á chúng ta từ hàng trăm năm nay họ đã đánh giá việc nuôi thỏ đem về cho họ một nguồn lợi lớn, không những tiêu thu trong nược mà còn xuất khẩu ra nước ngoài, hàng năm đem về một nguồn ngoại tệ đáng kể.</SPAN>
      Ông bà ta xưa cũng biết nuôi thỏ sinh lợi nhiều, cho nên nghề nuôi thỏ của mình cũng đã có từ lâu đời, thế nhưng do không có kinh nghiệm nuôi, nên ngành nghề này mới càng ngày càng mai một đi. Sô người nuôi trước thì đông, sau cứ bớt dần…</SPAN>
      Trước đây nửa thế kỹ, ở nông thôn miền Nam và một sô nơi ở miền trung có rất nhiều nhà nuôi thỏ. tuy số lượng nuôi không nhiều, mỗi nhà chỉ làm đôi ba cái chuồng để nuôi vài ba cặp thỏ và đặt ở sau nhà hoặc chái hè, coi như vừa lấy lợi vừa làm cảnh cho vui. Nhưng do cách nuôi của bà con mình quá lạc hậu nên ít ai thu được mối lợi lớn mà đáng ra phải có.</SPAN>
      Do không thấy được mối lợi trước mắt, nên ngành nghề chăn nuôi này cứ đi xuống, gần như tuột dốc, thật là thiên hạ đã bỏ qua mối lợi đáng tiếc.</SPAN>
      Ta hãy tìm hiểu tai sao nghề nuôi thỏ của chúng ta trước đây không phát triển mạnh được?</SPAN>

      1. Do không có kinh nghiệm:</SPAN>
      Đây được xem là yếu tố chính khiến nghề nuôi thỏ tại nước ta cứ “dặm chân” tại chỗ, nếu không muốn nói càng ngày càng lùi dần.</SPAN>
      Làm nghề gì cũng cần có kinh nghiệm, kinh nghiệm càng nhiều thì ngành nghề mới phát triễn nhanh được. kinh nghiệm này một phần lấy từ sách vở, tài liệu, một phần do sự ki cóp của bản thân. Nhưng khổ nỗi thời trước sách vở về ngành nghề này cũng ít, mà kinh nghiệm bản thân thì… ai biết người ấy để bụng chứ không ai chịu bày vẽ cho ai.</SPAN>
      Một điều nữa cũng cần phải đặt ra là trước đây ta đánh giá quá nhẹ con thỏ, không đặt ngang hàng mối lợi so với nuôi gà, nuôi vịt, nuôi để “ cho vui”, chứ ít ai nghĩ đến mối lợi to lớn do thỏ mang lại cho mình. Chính vì vậy nên ít người chịu mày mò kinh nghiệm để nuôi.</SPAN>
      Nhìn lại cách nuôi thỏ của ông bà ta xưa, ta thấy do quá thiếu kinh nghiệm nên mới gặp nhiều thất bại. Thói thường hễ thấy người này thành công thì người khác mới phần khởi làm theo, còn hễ chung quanh người người đều thất bại thì ai dại gì sấn sổ vào cho bị họa lây.</SPAN>

      2. Xem nhẹ việc chọn giống:</SPAN>
      Ngày xưa những người nuôi thỏ, hễ nuôi giống gì thì cứ nuôi mãi một giống. Mà giống thỏ ngày xưa là giống thỏ nội địa, gọi là “thỏ cỏ”, chúng rất nhỏ con, con trưởng thành nặng chỉ hơn hai ký mà thôi.</SPAN>
      Vẫn biết thỏ cỏ dễ nuôi, thích nghi tốt với khí hậu, chịu đựng được môi trường dơ bẩn, ăn dễ lại đẻ sai. Mức tốn không bao nhiêu, nhất là đỡ công chăm sóc nên ai cũng ham.</SPAN>
      Khoảng bốn năm chục năm trước đây, nhiều nơi nuôi thỏ như cách nuôi…trâu bò, hoặc cách nuôi heo thời xưa ở miền Trung, miền Bắc. Nghĩa là cũng làm chuồng nhốt, nhưng năm bảy tháng, thậm chí cả năm họ mới làm vệ sinh một lần, nên đứng gần chuồng thỏ đó mùi hôi xông lên. Cách cho thỏ ăn không cần có máng mà cứ vứt bừa. Số thức ăn còn thừa nó đạp xuống làm phân (thỏ cỏ), như cách ta nuôi trâu, bò, heo cốt để lấy phân bón cho cây. Mỗi ngày phân cứ dày lên một chút, đến khi nào thấy con thỏ có thể phóng ra khỏi chuồng thì người ta mới nghĩ đến vệ sinh chuồng thỏ.</SPAN>
      May mà giống thỏ ăn rất có nết, nó cứ ngồi xuống một chỗ rồi ăn lần tới, chứ không bươi hay xới như heo. Nuôi theo cách này chuồng rất bẩn lại hôi hám. Thế nhưng giống thỏ cỏ lại chịu được, ít con bị bệnh tật mới là chuyện đáng ngạc nhiên.</SPAN>
      Tuy nhiên, một khi giống đã nhỏ con thì sinh ra con nhỏ, làm thịt không được bao nhiêu, cho nên nuôi không… kinh tế. Người xưa thường đơn giãn nghĩ rằng thà làm một con gà giò cũng đãi được vài người khách, cho nên ít người chịu mua thỏ để ăn.</SPAN>

      3. Do cho sinh sản sớm:</SPAN>
      Một cặp thỏ tơ đực, cái nuôi chung trong chuồng thì từ tháng thứ tư, năm đã bắt đầu động dục, như vậy là ta cố tình cho thỏ đẻ quá sớm, thay vì phải nuôi đến 6 tháng tuổi mới bắt đầu cho phối giống. </SPAN>
      Đã thế, sau khi thỏ đẻ xong là cho con đực vào phối giống liền để đẻ lứa tiếp theo. Nuôi như vậy, mỗi năm ta khai thác được 12 lứa thỏ, trước mắt thấy lợi, nhưng liệu con thỏ mẹ đó kéo dài tuổi sinh sản được bao năm? Đó là điều không ai nghĩ đến. Mẹ mà mắn đẻ như vậy thì những lứa con sau thế nào cũng èo uột vì mẹ không đủ sức để tạo sữa nuôi con.</SPAN>

      4. Không biết ngăn ngừa kẻ thù cho thỏ:</SPAN>
      Con thỏ có rất nhiều kẻ thù, đặc biệt là thỏ con. Đành rằng chuồng có nắp đậy, những nắp đậy là tránh để thỏ mẹ thoát ra ngoài chứ không phải để ngăn ngừa kẻ thù cho thỏ con.</SPAN>
      Làm sao bảo đảm được những kẻ hở của vách chuồng được đóng sơ sài bằng tre, bằng gỗ thì không bị chuột khoét để chui vào. Loại thỏ con sơ sinh vốn là mồi ngon của chuột lắc. Thỏ con lớn hơn tí nữa thì bị mèo vồ, hoặc rắn… dù đẻ sai mà cứ bị hao hụt như vậy thì mối lợi đâu còn.</SPAN>

      5. Không biết giữ vệ sinh chuồng trại:</SPAN>
      Nuôi thỏ không có tiếng ồn nhưng do nước tiểu có mùi khai nồng nặc nên cần phải nuôi cách xa nhà ở của mình, mới hợp vệ sinh. Đó là nuôi với số lượng nhiều.</SPAN>
      Người xưa nuôi thỏ không biết cách giữ vệ sinh cho chuồng sạch sẽ. Nuôi như vậy trước hết có hại cho sức khỏe của thỏ và người nuôi, sau là tạo sư dơ bẩn trong khu chăn nuôi, như vậy nuôi số nhiều không được. Thường thì mỗi nhà đặt vài ba cái chuồng ở sau nhà hoặc bên chái nhà, tuy mùi hôi nhưng vẫn gắng chịu.</SPAN>
      Nuôi thỏ theo phương pháp cũ vừa trình bày ở trên gần như không tốn công chăm sóc. Chỉ chừng nào thấy phân trong chuồng “đôn” cao lên hơn phân nửa thì lúc đó người ta mới chịu khó mó tay vào làm vệ sinh. Có khi một đời thỏ là một đời chuồng, vì thỏ bán đi thì chuồng đã mục!</SPAN>
      Đành rằng chuồng đóng bằng tre không tốn kém, nhưng chẳng lẽ do không tốn kém mà lại nuôi mất vệ sinh?</SPAN>
      Nuôi như vậy không thể nuôi đại trà được và không thể áp dụng cho cách nuôi ngày nay.</SPAN>

      6. Không biết phối giống định kỳ:</SPAN>
      Ngày xưa người mình nuôi thỏ cho đẻ mỗi tháng một lứa con như cách chúng sinh sản tự nhiên trong rừng. Đẻ như cách nhiều người đẻ năm một vậy, nghĩa là tháng nào cũng thu được một bầy thỏ con. Không ai biết cách gìn giữ sức khỏe cho thỏ mẹ bằng cách tạo khoảng cách nghỉ ngơi cần thiết giữa hai lứa con như cách chúng ta nuôi ngày nay.</SPAN>
      Giống thỏ có điều lạ, vừa đẻ xong con cuối cùng, thỏ mẹ vừa lả người vì mệt, thế nhưng nếu đem sang chuồng thỏ đực thì nó chịu cho phối giống liền. Như vậy là ba mươi ngày sau ta đã có thêm được lứa thỏ con khác.</SPAN>
      Nuôi theo phương pháp cũ thì mau sinh lợi thật nhưng thời gian sinh sản của đời thỏ mẹ chắc chắn không thể kéo dài lâu, do kiệt sức, thay vì khai thác được ba năm thì chỉ độ năm rưỡi hoặc hai năm đã thải ra vỗ béo bán thịt.</SPAN>
      Không phải người xưa quá tham lam nên mới khai thác sự sinh sản của thỏ mẹ quá mức, mà là vì nhiều người lầm tưởng là do…giống thỏ mắn đẻ như vậy, cứ mỗi tháng ra một lứa như loài chuột! người ta khen thỏ mắn đẻ là vì vậy.</SPAN>
      Nhiều người nuôi thỏ đã lâu năm thậm chí nuôi từ đời này sang đời khác mà kinh nghiệm cũng không nhiều. Họ không biết được hiện tượng thỏ cái động dục ra sao? Mà nếu không nắm vững điều này thì việc cho thỏ phối giống sẽ cực kỳ khó khăn, vì làm sao cho phối đúng lúc được?</SPAN>
      Thỏ vừa đẻ xong cho phối giống thì mười con chịu hết mười, nhưng nếu để qua hôm sau, hoặc vài ba hôm nữa đem thỏ cái sang chuồng thỏ đực thì thỏ mẹ không chịu phối giống nữa. </SPAN>
      Vì không chịu nên thỏ cái cứ chạy lòng vòng mãi trong chuồng, mặt cho thỏ đực mặt sức rượt đuỗi. Có con còn nằm ép sát vách chuồng như trốn thỏ đực, nên nhiều khi thỏ đực cắn thỏ cái rất đau. Điều đó rất có hại đến sức khỏe của thỏ cái.</SPAN>
      Vậy thì chỉ còn cách phải chờ ngày thỏ cái động dục trở lại mới cho phối giống được. Muốn vậy, phải nuôi thúc cho thỏ cái sung sức lên, khoảng tháng sau nó mới lên giống.</SPAN>
      Do không biết được hiện tượng lên giống ở thỏ cái ra sao? Nên người nuôi thỏ cái đành để luôn. Thỏ cứ mập ú ra và không sinh sản nữa. Nuôi như vậy thì dễ chán, vì thỏ đâu sinh sản mà có lợi? vào nghề mà gặp trường hợp này chừng vài lần dễ nản, do đó có nhiều người bỏ nghề luôn!. Nhất là khi nuôi theo công nghiệp nếu trễ thời gian lên giống thì lại kéo dài thời gian nuôi mà không sinh ra lợi nhuận.</SPAN>
      Mặt khác do người nuôi thỏ có trăm ngàn công việc để làm, đâu mấy người rãnh rỗi cứ đứng bên chuồng thỏ mà quan sát từng hiện tượng một của chúng. Vì vậy, ông bà ta xưa xem việc thỏ đẻ vừa xong thì cho phối giống ngay là chuyện hợp với tự nhiên, nên họ cứ thế mà làm.</SPAN>
      Thực ra hiện tượng thỏ mẹ động dục trông quá rõ, ai có kinh nghiệm trong nghề sẽ nhận ra ngay. Vấn đề nay sẽ trình bày rõ ở phần sau.</SPAN>
      Do việc phối giống tường là quá khó khăn như vậy nên nhiều người không dám bắt tay vào nghề nuôi thỏ. Ngay một số người nuôi cũng chán ngán bỏ ngang.</SPAN>

      7. Không biết phương pháp phòng ngừa và chữa bệnh:</SPAN>
      Giống thỏ rất ít bệnh, đa số bệnh dễ phòng ngừa trước được dễ dàng. Nhưng khi chúng đã bệnh thì khó chữa trị. Ngay bệnh ghẻ không thôi cũng làm cho chủ nuôi lo lắng, vì rằng không cữa trị kịp thời bệnh sẽ lây ra cả chuồng, cả trại…</SPAN>
      Do không biết cách phòng ngừa và chữa trị, nên hễ trong chuồng phác giác có thỏ bệnh, họ cứ để cho thỏ lây lan, rồi chết dần mòn…bệnh một phần cũng do chuồng nuôi quá dơ bẩn, vì xem nhẹ khâu vệ sinh.</SPAN>
      Tóm lại, nuôi thỏ mà không có kinh nghiệm bản thân thì thất bại không sao tránh khỏi.</SPAN>

      Theo phương pháp cũ, nuôi thỏ không lợi.</SPAN>

      Nuôi thỏ theo phương pháp cũ mà ông bà ta đã nuôi quả không lợi thật. Con giống thì không cải thiện, nhiều nhà cứ nuôi mãi một giống thỏ cỏ từ đời này sang đời khác. Nuôi cho ăn quá đơn giản, chỉ có rau cỏ là chính. Chuồng nuôi không hợp vệ sinh, nhất là kích thước chuồng quá hẹp khiến thỏ thường bị bệnh, hao hụt nhiều, chỉ nuôi trong phạm vi nhỏ hẹp gia đình, chứ không ai có ý định nuôi đại trà.</SPAN>
      Số lượng nuôi đã hạn chế mà đầu ra cũng không có, nếu có cũng không đáng kể nên ngành nghề này không thể nuôi sống được người nuôi. Nuôi thỏ với mục đích chính là bán thỏ con cho người khác mua về nuôi, chứ ít ai trông mong từ nguồn lợi thỏ thịt. và rằng, trước đây dân ta không có thói quen ăn thịt thỏ. Người ta chê thịt thỏ không săn chắc, thịt bở, không ngon mà cũng không có nhiều cách chế biến bằng thịt gà, thịt bò,… đó là chưa nói giá cả lại đắt hơn. Một khi bà nội trợ đã chê thì thịt thỏ làm sao bán được?</SPAN>
      Nhiều người chê giá thịt thỏ đắt thì đúng, chứ chê dở thì e rằng sai. Vì rằng mỗi loại thịt đều có cách nấu nướng riêng của nó. Thịt thỏ mà nấu nướng theo cách của thịt bò, thịt gà thì sao ngon được? tất nhiên, thịt thỏ không thể chế biến được nhiều món ăn bằn thịt bò, thịt gà rồi! </SPAN>
      Lại có nhiều người cả đời không dám ăn một miếng thịt thỏ vì họ…tin dị đoan. Họ tin rằng người đàn bà đang có mang mà ăn thịt thỏ, sau naỳ sinh con sẽ bị sứt môi…giống thỏ bị chẻ hai vậy.</SPAN>
      Lối tin tưởng này thật không có cơ sở khoa học. sứt môi là do sự cấu tạo của các tế bào trong bào thai, chứ đâu phải có hơi hướm thịt thỏ. Mà ngay đàn bà có thai ngại ăn thịt thỏ đã đành, nhiều cô con gái chưa chồng cũng kiêng cữ vì… đề phòng xa!</SPAN>
      Có nhiều người cả đời nuôi thỏ nhưng cũng không làm thỏ mà ăn vì …sợ tội. tội đây là tội nghiệp cho con vật chứ không phải sợ tội lỗi. Họ quan niệm đơn giản rằng giống thỏ vốn hiền lành, cả đời không hề biết cắn mổ ai, thậm chí không biết kêu la, dù một tiếng khẽ nên họ rất thương, không thể tự tay làm thịt mà ăn.</SPAN>
      Vì có nhiều người chê thịt thỏ từ những lý do không đâu như vậy, nên người nuôi thỏ mới sống không nổi với nghề.</SPAN>
      Chính vì không thấy được mối lợi lớn từ thỏ mang lại, nên ngành nghề béo bở này mới bị chê trong suốt một quãng thời gian dài. Đó là điều đáng tiếc, vì chúng ta đã bỏ mất một mối lợi rất lớn. Họ nên biết rằng thịt thỏ rất bổ lại lành tính, hợp với người già và người đang ăn kiêng, nhất là bệnh nhân bị bệnh béo phì và tim mạch. Trong thịt thỏ hàm lượng cholesterol rất thấp, lại có nhiều đạm…</SPAN>
      Biết lựa chọn con giống tốt, to con gấp mấy lần giống thỏ cỏ, lại chú trọng đến cách pha chế thức ăn và có khẩu phần ăn hợp lý để bồi bổ đúng mức cho thỏ theo đúng từng thời kỳ sinh trưởng của nó. Nhất là khâu vệ sinh chuồng trại phải được cập nhật hàng ngày.</SPAN>
      Thị trường nuôi thỏ ngày nay cũng rộng, nhờ vào sự tiêu thụ thịt từ các nhà hàng, một số lượng cho các phòng thí nghiệm và nhất là thói quen không ăn thịt thỏ của nguời dân mình cũng không còn trong tuyệt đại đa số. Nhờ đó mà thị trường trong nước cũng khá dần lên</SPAN>
      Thịt thỏ ngày nay được mọi người đánh giá là loại thịt ngon, bổ, nên trước mắt số cung không đủ cầu và giá cả thị trường cao hơn nhiều loại thịt khác.</SPAN>

      CHƯƠNG 2</SPAN>
      PHÂN TÍCH CÁCH NUÔI CHUỒNG VÀ NUÔI THẢ</SPAN>

      Thỏ rất dễ nuôi, đó là điều ai cũng nhận biết có điều nuôi đúng kỹ thuật thì mối lợi sẽ cao hơn. Con thỏ rất yếu và cũng rất nhát, nuôi chúng ta phải lo bảo vệ chúng tối đa, dù đó là thỏ con hay thỏ lớn. </SPAN>
      Nuôi thỏ, có nhiều cách, nuôi chuồng và nuôi thả. Nhưng dù nuôi theo cách nào cũng phải bảo vệ chúng trước kẻ thù, đó là chó mèo, rắn (thỏ lớn)… và chuột lắc (thỏ nhỏ).</SPAN>
      Nuôi chuồng là nuôi nhốt trong chuồng. Nuôi theo cách này là mỗi chuồng một con thỏ giống. Cũng có thể nuôi được số nhiều, nếu ta nuôi trong nhà, trong trại để tránh mưa nắng, gió lùa.</SPAN>
      Gió lùa là thứ gió độc, thỏ bị là chết ngay. Chuồng thỏ cũng không nên để nắng rọi vào tránh mưa tạt. Con thỏ thích ở nơi khô ráo, sạch sẽ. Hãy nhìn vào bộ lông, ta sẽ thấy được điều đó. Thỏ không siêng năng chải chuốt bộ lông như loài mèo, nhưng bộ lông nó vẫn sạch và bóng láng như bộ lông mèo. Chuồng thỏ cũng phải thông thoáng mới tốt.</SPAN>
      Nuôi thả là nuôi ra đất, có thể trên lợp mái nếu đó là diện tích hẹp. Còn nuôi đại trà thì nuôi ra ngoài đất trống, để thỏ sống tự nhiên như sống ngoài thiên nhiên. Nuôi cách này không làm chuồng, làm trại vì thỏ tự đào hang mà sống. Người nuôi chỉ lo tìm cách bảo vệ và ngăn giữ để thỏ khỏi thất thoát ra ngoài phạm vi nuôi là được.</SPAN>

      Trong hai cách nuôi chuồng và nuôi thả cũng có nhiều mặt lợi, mặt hại. </SPAN>

      I. NUÔI CHUỒNG.</SPAN>

      Nuôi chuồng là cách nuôi nhốt tùy mục đích mà nuôi chung hay nuôi riêng từng con. Với thỏ con, thỏ lứa ta nuôi tập thể để chúng tranh ăn với nhau cho mau lớn. Với thỏ cha, thỏ mẹ thì phải nuôi riêng mỗi con một ngăn chuồng…</SPAN>
      Nếu mỗi nhà nuôi một vài chuồng thì ta có thể đặt chuồng vào nơi nào trong nhà, trong vườn cũng được. Thường thì ngưởi ta đặt chuồng bên chái nhà, đằng sau nhà hoặc dưới gốc cây có tán lá rộng…nói cách khác, nuôi thỏ không kén nơi đặt chuồng trừ trường hợp tránh giá lùa và mưa tạt, nắng rọi.</SPAN>
      Nếu nuôi chuồng mà nuôi số lượng nhiều thì phải làm nhà, làm trại. Nhà hay trại cần phải có nền cao để tránh mưa ngập, phải thông thoáng, trừ mưa phải có những tấm phên che chắn mứa gió lùa vào.</SPAN>
      Trong nhà hay trại phải chia ra từng khu vực, hoặc đặt chuồng theo hàng lối, giữa có lối đi để tiện chăm sóc, làm vệ sinh và cho thỏ ăn uống…</SPAN>
      Tóm lại, chuồng càng thoáng càng hợp vệ sinh thỏ nuôi mau lớn và ít bệnh tật. Nhà hay trại nuôi thỏ tốt nhất là hợp bằng lá, hay ngoi.</SPAN>
      Nếu lợp tôn phải có mái cao như vậy mới thông thoáng, không nóng.</SPAN>

      1.Vật liệu đóng chuồng thỏ.</SPAN>

      Chuồng thỏ không cần đóng đẹp, cũng không cần sử dụng loại vật liệu đắt tiền. ở thôn quê, hay ở các nước như Nhật, Trung Quốc…ngưởi ta chỉ dùng toàn vật liệu tre nứa, vốn là sản phẩm sẵn có của địa phương mua rẻ mà cần lúc nào có lúc ấy, không sợ thiếu hụt.</SPAN>
      Ngoài tre nứa ra, ta có thể sử dụng ván tạp để đóng sườn chuồng và vách chuồng.</SPAN>
      Loại lưới kẽm mắt nhỏ độ một phân cũng cần thiết để đóng chuồng thỏ. Lưới kẽm dùng đóng mặt tiền chuồng, mặt đáy chuồng và cả nắp đậy.</SPAN>
      Dùng lưới kẽm đắt hơn tre nhưng dùng bền hơn, nếu chịu khó sơn vài nước. Ngay tre nứa cũng phải ngâm dưới ao lâu ngày để chịu được mối mọt và lâu mục. Nếu không ngâm nước tốn nhiều thì giờ, thì ta có thể phết lên cán, lên tre chất creosote hoặc carbonyle cũng ngừa được mối mọt, nếu không ta có thể quét lên 1 lớp nhớt xe mà ta đã thay.</SPAN>
      Thường thì ai cũng đóng chuồng thỏ với vật liệu rẽ tiền để giảm thiểu số tiền đầu tư lại, để tập trung vào việc mua sắm thỏ giống.</SPAN>

      2. Kiểu dáng chuồng thỏ.</SPAN>

      Nhìn sơ qua thì chuồng thỏ chẳng khác gì cái chuồng gà, cũng là một hình chữ nhật, trên có mái che. Có khác chăng là bốn chân cao lêu khêu (cao từ 8 tấc đến một thước) để dễ quét dọn.</SPAN>
      Một chuồng thỏ lý tưởng nhất là bộ khung bằng gỗ, sau mặt đều bằng lưới kẽm. chuồng như vậy tuy đắt tiền, nhưng thông thoáng.</SPAN>
      Ta có thể ghép tre hoặc ván ở vách sau và hai vách hông cho đỡ tốn tiền. Mặt tiền làm bằng lưới kẽm cho dễ quan sát. Còn mặt đáy có tiền cũng nên làm lưới kẽm, loại lưới pha chì cho lâu mục. Lưới đóng chuồng thỏ phải là lưới mắt cáo hoặc lưới vuông có bề cạnh chừng một phân là vừa. Khi sử dụng tre làm sàn thì nên đóng với khoảng cách 1,2 cm thì là chuẩn. Khi sử dụng lưới kẽm có pha chì (đắc tiền) nên sử dụng ở mặt đáy, còn vách ngăn hay hai vách mặt tiền thì không cần loại chắc vì thỏ ít phá ở 2 mặt này.</SPAN>
      Còn nếu mặt đáy đóng bằng tre thì nên dùng loại tre cật, tre già và đón cách khoảng chừng một phân là vừa. Nếu ta đóng với khoảng cách thưa quá, hoặc dùng lưới kẽm có mắt to quá thì chẳng khác gì mở cửa cho chuột lắt chui vào để ăn thỏ con, hoặc phá hại thức ăn như cám lúa…Nếu mặt trước đóng bằng lưới ( cho dễ quan sát) thì nắp đậy bên trên có thể dùng bằng tre hoặc ván cũng được.</SPAN>
      Hợp vệ sinh nhất là mỗi ngăn chuồng đều phải có máng phân. Phân thỏ dạng viên tròn, vừa đủ lọt mắt lưới có bề cạnh một phân. Máng phân tốt nhất là gò bằng tôn hay bằng nhôm. Máng tất nhiên chung quanh phải có gờ cao ít lắm là một phân. Ta có thể đặt nghiêng máng phân cho dốc về một góc chuồng để nước tiểu thỏ chạy về góc đó, bên dưới đặt cái lon nhỏ để hứng.</SPAN>
      Nếu thực hiện như vậy thì viêc vệ sinh chuồng sẽ nhẹ công hơn và tiện lợi hơn.</SPAN>
      Trong trường hợp nhiều mặt bằng, ta có thể đóng chuồng hai tầng. mỗi tầng đều có máng phân riêng cho hợp vệ sinh.</SPAN>

      3. Kích thước chuồng thỏ đực.</SPAN>

      Thỏ đực thực tế thân hình không lớn hơn thỏ cái bao nhiêu, nhưng chuồng nó phải đóng rộng hơn, vì rằng có rộng thì việc phối giống được dễ dàng.</SPAN>
      Nên nhớ khi phối giống ta bắt thỏ cái sang chuồng thỏ đực và hai con có đủ chổ để giỡn nhau.</SPAN>
      Chuồng thỏ đực không chỉ rặng mà còn phải chắc chắn nữa. Nếu nhốt gần, khi trong bầy đàn có một thỏ cái động dục thì thỏ đực đánh hơi biết ngay và nó phá chuồng để tìm đến thỏ cái. Chuồng thỏ đực vì thế phải làm chắc chắn, kể cả nắp đậy bên trên.</SPAN>
      Nếu để thỏ đực phá chuồng chạy sang chuồng thỏ cái thì rất tai hại, vì nó có thể xéo chết hết bầy thỏ con. Chính vì lẽ đó, nên nhốt thỏ đực cách xa thỏ cái</SPAN>
      Chuồng thỏ đực nên đóng chiều rộng 60cm, dài 70cm là vừa</SPAN>

      4. Kích thước chuồng thỏ cái.</SPAN>

      Thỏ cái phải ở chuồng rộng, vì nó ở chung với đàn con. Trong đó cái ổ đẻ cũng choán hết một diện tích khá lớn. Chuồng thỏ cái không cần làm chắc chắn lắm, vì giống thỏ cái hiền, cơ hồ không phá phách. </SPAN>
      Chuồng thỏ cái nên đóng với kích thước bằng chuồng thỏ đực. Nếu cần, đóng rộng hơn một chút cũng tốt. Khi lẻ bầy thì một mình thỏ cái ở một chuồng trông khá thoải mái, nhưng khi lứa con được một vài tháng thì chuồng rộng trông cũng thành chật. Vì vậy, tốt nhất chuồng thỏ cái nên có chiều rộng 50-60cm và chiều dài 60-70cm.</SPAN>

      5. Kích thước chuồng thỏ con.</SPAN>

      Tùy theo nhu cầu nuôi thỏ con với số lượng ít hay nhiều mà đóng chuồng hẹp hay rộng. Với thỏ con, ta có thể nuôi tập thể từ vài chục đến cả trăm con một ngăn chuồng, miễn là bố trí máng ăn uống cho hợp lý để chúng không phải chen lấn nhau ăn uống khiến con đói, con no.</SPAN>
      Mặt khác, thỏ con cần có nơi ở thoáng mát hơn, nên nhốt với mật độ dày không tốt. Thường thì loại chuồng bề ngang 1m, bề dài 1,5m có thể nuôi được 10 thỏ con. Chiều cao của ngăn chuồng thỏ con lớn khoảng 30cm. có nhiều người đóng chuồng cao 50cm, như vậy cũng tốt nhưng cao quá thì cũng có cái bất tiện của nó. Nhưng nếu chuồng cao 30cm thì vừa đủ cao hơn lỗ tai thỏ 1 ít. Với lại nếu đóng chuồng bằng lưới thì kích thước lưới trên thị trường là khổ 1m nên khi đóng chuồng cao 30cm, 2 bên là 60cm và đáy 40cm thì miếng lưới sẽ không bị dư . chuồng nuôi thỏ con không cần đóng chắc chắn lắm nhưng điều cần lưu ý là kích mắt lưới hay khoảng cách giữa các thanh tre dưới đáy chuồng. Nếu thưa quá hay lớn quá thì thỏ con sẽ bị lọt chân xuống có khi bị gãy chân luôn.</SPAN>


      6. Chuồng nuôi thỏ thịt.</SPAN>

      Thỏ thịt là thỏ bị loại ra do không đủ tiêu chuẩn để giống, hoặc là thỏ lớn tuổi không còn khả năng sinh sản nữa, nay nuôi vỗ béo để bán thịt.</SPAN>
      Loại thỏ thịt này có thể nuôi tập thể mỗi chuồng từ năm mươi con, nhưng tốt nhất nên nuôi một đến hau con trong một ngăn chuồng mới cho kết quả tốt. </SPAN>
      Chuồng nuôi thỏ thịt không cần rộng vì cần hạn chế sự chạy nhảy đùa giởn của chúng. Vì vậy, đóng một cái chuồng với kích thước bằng chuồng thỏ đực rồi đem ngăn đôi ra bằng một miếng ván là ta đã có hai ngăn chuồng, mỗi ngăn nhốt được hai con thỏ thịt. Chuồng nuôi thỏ thịt cũng không cần làm chắc chắn, thường người ta sửa lại những chuồng đã cũ để dùng tạm. Hơn nữa, thời gian vỗ béo thỏ thịt đâu có lâu, chùng vài tháng mà thôi.</SPAN>






      </SPAN></SPAN>

      II. NUÔI THẢ</SPAN>

      Thỏ nuôi thả là cho sống tự do ngoài đất, không có chuồng trại. Thời gian đầu nhiều người ngại rằng thò nhà không có khả năng thích ứng sống hoang dã như thỏ rừng. Nhưng nhiều thử nghiệm cho thấy chúng vẫn sống tốt, vẫn đem lại kết quả tốt. Nghĩa là vẫn sinh sản bình thuờng. </SPAN>
      Sống ngoài thiên nhiên trông thỏ sống khỏe mạnh ra, tung tăng chạy nhảy khắp nơi, dù ngay trong mùa mưa cũng vậy. Chúng không sống ru rú như thỏ nuôi chuồng và biết đào hang sâu để sống. Nói chung, chúng sống như thỏ rừng.</SPAN>
      Nuôi thả, tùy diện tích nuôi rộng hay hẹp, mà khởi đầu ta thả số thỏ giống hợp lý để chúng sống và sinh sản trong khu đất ấy. Trung bình cứ một thỏ đực ta thả năm thỏ cái là vừa.</SPAN>
      Ban ngày thỏ chui xuống hang ngủ, thỉnh thoảng mới thấy xuất hiện đây đó một số con do đói bụng mới mò lên mặt đất để tìm kiếm thức ăn. Vì tập tính của thỏ là thích ăn đêm.</SPAN>
      Nuôi thả ta vẫn phải cung cấp đầy đủ thức ăn nước uống cho chúng và nên tập cho chúng ăn theo bữa, đúng nơi đúng chỗ và đúng giờ giấc mà mình định sẵn. Việc cho ăn đúng bữa và đúng nơi chốn sẽ đem lại điều lợi là ta có thể kiểm soát được số lượng thỏ lớn và thỏ lứa đang có (dù không được chính xác lắm) và nhất là khi cần có thể ví bắt đem bán hoặc thịt.</SPAN>
      Đất nuôi thỏ không đòi hỏi đất tốt mà đất hoang hóa cũng được. Điều cần là đất không được ngập úng hoặc có mực nước ngầm quá sâu. Chúng ta nên nhớ giống thỏ rất kỵ môi trường sống quá ẩm thấp. nới nuôi thỏ tốt nhất là một cái cù lao, chung quanh luôn luôn có nước để ngăn trở sự đào thoát ra ngoài phạm vi nuôi của chúng.</SPAN>
      Ngược lại, nếu khu đất có mực nước ngầm sâu thì chỉ xây chân móng kỹ quanh khu vực nuôi. </SPAN>

      1. Nuôi thả trên diện tích nhỏ</SPAN>

      Nuôi thả trên diện tích nhỏ chừng vài ba chục thước vuông trở lại, nếu có sẵn cái cù lao giữa ruộng mà nuôi thì không gì tốt bằng. Giữa cù lao là đất cồn, thỏ tha hồ đào hang mà sống. Chung quanh lúc nào cũng có nước bao bọc là thứ hàng rào thiên nhiên ngăn trở khiến thỏ không còn cách để trốn đi.</SPAN>
      Nếu diện tích dành nuôi thỏ nằm trên một thửa đất băng, thì tốt nhất ta phải xây tường gạch bao quanh dưới đất và phải xây móng cho sâu, ít ra phải sâu 60-70cm, như vậy thỏ có đào hang ra tận biên gặp chân móng tường nó cũng dội lại. Tường bao bên trên cao thấp là tùy mình, nhưng ít lắm cũng 60-70cm. Tốt hơn hết là nên xây cao hơn 1m để ngăn ngừa những thú lớn, nếu có.</SPAN>
      Móng tường sỡ dĩ phải xây sâu như vậy vì hang thỏ đào khá sâu, thường là sâu 40-50 cm đối với mặt đất. Hang thỏ không phải như hang cua, hang lươn mà chạy ngoằn ngoèo ở dưới đất như hang trùn đến cả chục mét. Cuối hang nó đào phình to ra như cái thúng nhỏ để làm nơi ngủ nghỉ và lót ổ. Đã thế, chúng quanh hang còn có nhiều ngõ ngách ( cửa hang phụ) để khi gặp sự cố bất trắc chúng dễ thoát thân.</SPAN>
      Tóm lại, móng tường mà đào đến mí mực nước ngầm bên dưới thì tốt nhất. Do đó, còn tùy theo khu đất, thế đất có tầng đất mặt dày hay mỏng mà chân tường phải xây sâu hay cạn. Khi thỏ đào hang đào đụng đến mí nước là ngưng ngay, vì chúng sợ nước bên ngoài trào vào hang.</SPAN>

      2. Nuôi thả diện tích rộng</SPAN>

      Nuôi thả trên diện tích rộng cả ngàn mét vuông cũng được. Với diện tích rộng như thế này ta xây tường rào rất tốn kém mà phải thế bằng mương rãnh bao quanh, khiến vùng đất chăn nuôi thành cái cù lao giả.</SPAN>
      Có điều, phải bảo đảm được rằng quanh năm hào rãnh chung quanh phải được ngập nước, như vậy mới giữ chân thỏ trong khi vực nuôi được. Vì như trên đã nói, thỏ nuôi thả sẽ đào hang mà sống. Hang chúng luồn lách lung tung, chỉ khi nào đụng mí nước chúng mới ngưng lại. Vì luật sinh tồn đã giúp chúng khôn ngoan biết được điều đó. Nó chỉ đào hang trên vùng đất khô ráo và tránh nơi ẩm ướt.</SPAN>
      Mương nước phải đào đủ sâu và rộng mới đủ sức cô lập bầy thỏ nuôi bên trong và ngăn cản những con thú ở bên ngoài vào khu vực nuôi, như có , mèo, chồn… và các loại gia súc lớn như trâu bò…</SPAN>
      Ngay việc lui tới, đi lại của nhười chăm sóc, cho ăn cũng nên hạn chế, phải làm cái cầu giả, hoặc cầu treo, khi dùng thì hạ xuống, khi không dùng thì treo lên. Nếu đào mương mà vẫn có cầu thì chằng khác gì …chỉ đường cho hươu chạy!</SPAN>
      Xin được nhắc lại, thành công hay thất bại trong việc nuôi thỏ thả là tùy vào cái mương nước bao quanh, đào có đúng kỹ thuật hay không.</SPAN>
      Mương nước phải đủ chiều sâu để chứa dược nhiều nước và lượng nước lúc nào, mùa nào cũng bảo đảm đủ đầy (nước hụt cho phép so với mặt đất độ ba mươi cm là nhiều) vì nước cạn dưới mức đó thì hang thỏ sẽ đào ra tận mép mương. Mặt khác, mượng nước cũng phải đủ chiều rộng để thỏ nhảy qua không được.</SPAN>
      Do đó, việc nuôi thỏ thả trên diện tích rộng không thích hợp với vùng đất cao như đất đồi, vì ở đây mực nước ngầm quá thấp, nước trong mương dễ bị khô cạn, nhất là trong mùa hạn hán. Trường hợp khu đất thấp quá dễ bị úng ngập trong mùa mưa cũng không thể nuôi thỏ được, trừ trường hợp cơi mặt bằng cao lên, nhưng điều này lại quá tốn kém.</SPAN>
      Đất nuôi thỏ cũng nên cạnh nhà hay chung quanh có nhiều nhà ở, nếu không thì phải lập trại cắt cử người chăm sốc. Do thỏ có lắm kẻ thù, ngoài con người ra còn có chó, mèo, chồn…mà chúng ta đã biết, còn có rắn, diều hâu, quạ, chim cắt lúc nào cũng rình bắt thỏ con vài tháng tuổi trở xuống để ăn thịt.</SPAN>

      III. MẶT LỢI, HẠI CỦA NUÔI CHUỒNG VÀ NUÔI THẢ.</SPAN>

      Nuôi chuồng và nuôi thả đối với thỏ, lợi hại ra sao đã từng làm nhiều nhà chăn nuôi từ trước đến nay băn khoăn tìm hiểu.</SPAN>
      Chắc chắn phương pháp nào cũng có mặt hại và mặt lợi của nó. Có điều không ít thì nhiều. Ta xét xem từng mặt lợi hại của từng phương pháp một ra sao.</SPAN>
      Nhìn sơ qua thì thấy nuôi chuồng, không thể nuôi đại trà được, vì chuồng với dãy ngang dãy dọc, tốn kém rất nhiều mặt bằng. Mà nuôi thả với diện tích nhỏ cũng nuôi không được nhiều lắm!</SPAN>
      Thế nhưng, còn xét đến trường hợp không phải ở đâu nuôi thả cũng được, như ở thành phố đất hẹp người đông, đâu ai có dư đất trống hàng sào, hàng mẫu để nuôi thả với số lượng thỏ đại trà?</SPAN>

      1. Mặt lợi</SPAN></SPAN>

      Trước hết, ta hãy xét về mặt lợi của hai cách nuôi này, có như vậy mới so sánh đúng được.</SPAN>

      a. Mặt lợi của việc nuôi chuồng</SPAN>
      Mặt lợi của việc nuôi thỏ bằng chuồng như sau:</SPAN>

      • Nắm chắc được số lượng bầy thỏ đang nuôi là bao nhiêu con, trong đó có bao nhiêu thỏ đực, bao nhiêu thỏ cái ,thỏ lứa , thỏ con.</SPAN>
      • Hằng ngày theo dõi dược sức khỏe của từng con thỏ một: Con nào ở chuồng nào bỏ ăn, hay biếng ăn, con nào mạnh khỏe, con nào đang động dục…để tùy trường hợp mà kịp thời xử lý.</SPAN>
      • Đánh giá đúng mức được sự sinh sản ra sao của từng thỏ đực và thỏ mẹ. Con nào tốt thì để nuôi, con nào sinh sản kém thì thải ra vỗ béo bán thịt.</SPAN>
      • Biết rõ được từng ổ thỏ con, ổ nào quá nhiều ổ nào quá ít, để nếu cần gởi nuôi vú.</SPAN>
      • Nuôi chuồng không phí phạm thức ăn, thức ăn vốn được cung cấp với số lượng vừa đủ cho từng chuồng vì biết chuồng nào ăn nhiều, chuồng nào ăn ít. </SPAN>
      • Biết rõ được dòng going đích xác của từng ổ thỏ con, để đáp ứng đúng mức nhu cầu của khách hàng, mà để dành nuôi cũng tiện.</SPAN>
      • Khi cần, bắt thỏ dễ dàng theo ý muốn. vì thỏ nằm trong chuồng có khác chi cá nằm trên thớt, còn chạy đi đâu!</SPAN>
      b. Mặt lợi của phương pháp nuôi thả:</SPAN>

      Nuôi thả cũng đem lại những mặt lợi đáng kể, nhìn qua cũng dễ thấy được:</SPAN>

      • Trước hết là không tốn tiền đóng chuồng, làm nhà, làm trại. Đây là số tiền khá lớn, lại còn phải lo tu bổ thường xuyên, dùng một thời gian phải đổi mới…</SPAN>
      • Nuôi được số lượng lớn.</SPAN>
      • Gần như không tốn công chăm sóc</SPAN>
      • Ít hao tốn mặt bằng</SPAN>
      • Bớt công cho ăn: Vì cho ăn tập thể, chứ không riêng lẻ từng chuồng như cách nuôi chuồng.</SPAN>
      • Không hao hụt nhiều thức ăn: Vì thức ăn nào con nay chê thì con khác cũng lượm lặt ăn hết.</SPAN>
      • Không ô nhiễm môi trường nuôi.</SPAN>
      2. Mặt hại</SPAN></SPAN>

      a. Mặt hại của việc nuôi chuồng:</SPAN>
      • Tốn rất nhiều tiền và công sức để đóng chuồng cùng dụng cụ chăn nuôi</SPAN>
      • Tốn tiền làm nhà, làm trại.</SPAN>
      • Chiếm nhiều mặt bằng.</SPAN>
      • Tốn nhiều công cho ăn uống, chăm sóc.</SPAN>
      • Công làm vệ sinh chuồng trại rất nặng.</SPAN>
      • Thỏ nuôi chuồng chỉ phụ thuộc vào thức ăn mà người nuôi cho ăn mà thôi còn nuôi thả thỉ ngoài thức ăn đó còn có thức ăn tự nhiên kiếm được.</SPAN>
      • Ô nhiễm môi trường nặng (thỏ cỏ).</SPAN>
      b. Mặt hại của việc nuôi thả:</SPAN>
      • Tốn công đào mương rãnh bao quanh khu đất chăn nuôi.</SPAN>
      • Không nắm chắc được số lượng bầy thỏ đang nuôi là bao nhiêu: Đực, cái, thỏ lứa, thỏ con, thỏ đang sinh sản.</SPAN>
      • Không theo dõi được sức khỏe của từng con thỏ, nên khó khăn trong việc chữa trị. Nếu bệnh lây lan thì coi như ...mất trắng. Mà bệnh ghẻ ở thỏ xuất hiện thường xuyên do thỏ tiếp xúc với thức ăn có dính nước. Nếu không phát hiện sớm thì rất nguy hại, chưa kể là còn nhiều bệnh khác đe dọa…</SPAN>
      • Sự sinh sản của thỏ không do mình định đoạt mà theo tính tự nhiên: không biết được con nào sinh sản tốt, con nào sinh sản kém, con nào đang nuôi con ( vì ổ nó ở dưới hang sâu).</SPAN>
      • Không biết đuợc lý lịch của từng con thỏ ra sao.</SPAN>
      • Không phân biệt được thỏ để giống và thỏ thải ra nuôi thịt ( nếu cần một số lượng nào đó để ăn hoặc bán thì cứ bắt bừa).</SPAN>
      • Bắt thỏ phiền phức hơn.</SPAN>
      Trên đây là xét về mặt lợi hại của việc nuôi thỏ theo phương pháp nuôi chuồng và nuôi thả.</SPAN>
      Xét về mặt lợi, ta thấy việc nuôi thả có nhiều điều lợi hơn:</SPAN>
      Không tốn tiền đóng chuồng. đây là số tiền khiến ai cũng ngại: tiền bỏ ra mua con thỏ giống không bao nhiêu, nhưng tiền làm chuồng nuôi thỏ mới là nhiều. hơn nữa, nuôi thỏ chuồng rất mau hư mục, thỉnh thoảng phải tốn công tu sửa và nuôi ba bốn năm lại phải thay chuồng mới.</SPAN>
      Nuôi được số lượng nhiều: nuôi chuồng không được bao nhiêu thỏ, vì chuồng chiếm rất nhiều mặt bằng, đó là chưa kể tạo đường ngang lối dọc để qua lại chăm sóc. Còn nuôi thả thì cứ nuôi đại trà, khi đã sinh sản nhiều, mật độ thỏ dày thì cứ bắt ra bán dần bớt.</SPAN>
      Đỡ công chăm sóc và vệ sinh chuồng trại: nuôi thả thì gần như mọi việc ta phú cho trời, trừ việc cung cấp lương thực hàng ngày cho thỏ. Nuôi thả không tốn hao một chút công sức nào trong việc chăm sóc, cũng như làm vệ sinh khu vực nuôi. Trái lại, nuôi chuồng thì khâu này tốn bao nhiêu thời gian và nhân lực. Vì việc vệ sinh chuồng trại nếu không lo cập nhật hàng ngày thì ô uế không sao chịu nổi, nhất là khi chuồng thỏ cạnh nhà, hoặc mình…ở chung với thỏ.</SPAN>
      Không ô nhiễm mơi trường: nuôi thả thì môi trường nuôi không ô nhiễm như nuôi chuồng, vì những chất thải của thỏ một phần theo gió bốc hơ, một phần thấm sâu vào đất.</SPAN>
      Tuy nhiên, xét về mặt lợi thì nuôi chuồng vẫn có nhiều mặt lợi đáng kể của nó, như:</SPAN>
      Nắm chắc được tổng số lượng bầy thỏ đang nuôi và phân loại chúng ra được dễ dàng.</SPAN>
      Theo dõi sát sao sự sinh sản của từng con thỏ đực, thỏ cái…</SPAN>
      Nếu xét về mặt hại thì nuôi theo phương pháp thả có nhiều hại hơn là nuôi chuồng. thế nhưng, xét cho cùng nuôi mà tốn quá ít vốn ( gần như chỉ tốn tiền con giống), lại không tốn đến một chút công sức để vệ sinh chuồng trại thì cái hại đó xét ra cũng không đáng kể.</SPAN>


      3. Cách bắt thỏ </SPAN>
      Phải bắt thỏ cẩn thận để khỏi gây chấn thương cho thỏ. Khi nhấc thỏ lên phải nắm thật chắc chắn nhưng rất nhẹ nhàng.</SPAN>
      Khi bắt thỏ, chú ý đừng để thỏ chạy hỗn loạn, làm chúng sợ và phản ứng lại, cào cắn mình. Không bao giờ đước nắm chân, nắm tai thỏ để nhấc lên. Nguyên nhân không được nắm tai thỏ là do làm thỏ bị đau, và khi bắt tay của t ache mắt thỏ làm cho thỏ không nhìn thấy gì cả nên thỏ sợ hãy và vào hoãn loạn làm chúng tai ta.</SPAN>
      Bắt thỏ con: nắm chắc vùng giữa xương chậu và mông nhấc thỏ lên để đầu cúi xuống hoặc nắm da lưng nhấc lên.</SPAN>

      IV. NHỮNG LỢI ÍCH CỦA NGHỀ NUÔI THỎ THEO HÌNH THỨC CÔNG NGHIỆP </SPAN>
      Phân tích mặt lợi và hại của 2 hình thức nuôi thỏ: công nghiệp và cỏ</SPAN>

      [TABLE]
      <TBODY>[TR]
      [TD]Thức ăn công nghiệp</SPAN>
      [/TD]
      [TD]Thức ăn bằng cỏ</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]Nhẹ công</SPAN>
      [/TD]
      [TD]Nặng công</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]Giàu chất dinh dưỡng,</SPAN>
      [/TD]
      [TD]Thức ăn dễ tìm</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]hàm lượng chất xơ vừa đủ thỏ không bị tiêu chảy</SPAN>
      [/TD]
      [TD]Thức ăn không đảm bảo vệ sinh</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]Thức ăn có hoocmon tăng trưởng kích thích quá trình tăng trọng</SPAN>
      [/TD]
      [TD]phân thải ra nhiều làm chuồng nuôi cũng như môi trường nuôi không đảm bảo vệ sinh</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]Thức ăn có thuốc kháng sinh nên tăng cường sức đề kháng cho thỏ</SPAN>
      [/TD]
      [TD]Thỏ con dễ mắt bệnh</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD] Phòng bệnh khi cần thiết</SPAN>
      [/TD]
      [TD]Hao hụt nhiều</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]
      [/TD]
      [TD]Cần phòng bệnh thường xuyên</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]Thời gian nuôi ngắn</SPAN>
      [/TD]
      [TD]Thời gian nuôi dài</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]Sinh sản nhiều</SPAN>
      [/TD]
      [TD]Sinh sản không nhiều</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      </TBODY>[/TABLE]

      Chăn nuôi thỏ đem lại nhiều lợi ích và thuận lợi cho người chăn nuôi vì những lý do sau:</SPAN>

      Thỏ sinh sản nhiều và nhanh </SPAN>
      Thỏ sinh sản nhanh, do tuổi sinh sản chỉ 6-7 tháng (nuôi theo hình thức cho ăn bằng cỏ). Nếu nuôi bằng thức ăn công nghiệp thì tuổi sinh sản tính theo trọng lượng khoảng 2,3 -2,5kg, thời gian khoảng 3-3,5 tháng tính từ lúc mới sinh và thời gian mang thai khoảng 1 tháng (28-32 ngày). Do vậy nếu tháng giêng thỏ mẹ đẻ thì tháng 4 cùng năm thỏ con sẽ đẻ và tháng 8 cùng năm đời cháu sẽ đẻ, tiếp tục như vậy thì tháng 12 cùng năm đời cháu chắc sẽ đẻ. Như vậy trong khoảng 12 tháng cả 4 thế hệ cùng có thể sản xuất ra thỏ con. Mỗi lứa thỏ đẻ trung bình 7-9 con, mỗi thỏ cái trung bình mỗi năm đẻ 6-7 lứa. Mỗi năm thỏ có thể sinh sản trung bình 48 con thỏ con. Còn thỏ cỏ chỉ đẻ trung bình khoảng 5-7 con, mỗi năm sinh sản trung bình khoảng 36 con. Sự chênh lệch cách nhau 12 con. Ngoài ra nuôi thức ăn hỗn hợp mới có thể đảm bảo thỏ hồi phục sức khỏe để thỏ đẻ liên tục và đẻ nhiều được.</SPAN>

      Thịt thỏ có giá trị dinh dưỡng tốt: </SPAN>
      Thịt thỏ ngon chất lượng tốt (ít mỡ nhiều đạm) dễ tiêu hóa thích hợp với người gìà, trẻ em và ngườì bệnh. </SPAN>

      Bảng 1. Gía trị dinh dưỡng của các loại thịt (g/100g) </SPAN>
      [TABLE]
      <TBODY>[TR]
      [TD]Loại thịt </SPAN>
      [/TD]
      [TD]Kcal</SPAN>
      [/TD]
      [TD]protein</SPAN>
      [/TD]
      [TD]béo</SPAN>
      [/TD]
      [TD]glucid</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]Thỏ </SPAN>
      Heo </SPAN>
      Ngỗng </SPAN>
      [/TD]
      [TD]162</SPAN>
      400</SPAN>
      490</SPAN>
      [/TD]
      [TD]22.5</SPAN>
      14.5</SPAN>
      16</SPAN>
      [/TD]
      [TD]8</SPAN>
      37</SPAN>
      45</SPAN>
      [/TD]
      [TD]0.4</SPAN>
      0.2</SPAN>
      0.2</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      </TBODY>[/TABLE]

      V. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC </SPAN>
      Thỏ nhà là loài gia súc tương đối yếu, khá nhạy cảm và dễ có phản ứng cơ thể với những điều kiện thay đổi của môi trường bên ngoài như nắng, mưa, ẩm độ, nhiệt độ, thức ăn, nước uống, tiếng ồn và các ô nhiễm môi trường khác. Vì vậy người nuôi thỏ cần phải hiểu rõ về các đặc tính sinh học, nhằm bảo đảm tạo cho thỏ đầy đủ các yêu cầu tối ưu nhất cho thỏ sinh sống khi môi trường sống có sự thay đổi, bằng cách áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăn nuôi. </SPAN>

      Những tập tính đặc biệt của thỏ </SPAN>
      Thỏ có một số các tập tính như sau: thỏ sống bình thường thì đào hang làm nơi trú ẩn và sinh sản, và dễ dàng nhận biết mùi của chính nó, thỏ sống thành bầy và thông thường số cái nhiều hơn đực, thông thường sự rụng trứng của thỏ cái xảy ra trong lúc phối giống, thỏ cái thường dùng các vật liệu kết hợp với lông ở bụng để làm ổ trước khi đẻ, thỏ ăn và uống bất kỳ thời gian nào trong 24 giờ , chúng không ăn thức ăn đã dơ bẩn, đã rơi xuống đất, v..v..</SPAN>

      Sự đáp ứng cơ thể với khí hậu </SPAN>
      Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất và ảnh hưởng trực tiếp đối với thỏ. Khi nhiệt độ thấp hơn 10[SUP]0</SPAN>[/SUP]C thỏ cuộn mình để giảm diện tích chống lạnh, nhưng khi nhiệt độ từ 25-30[SUP]0</SPAN>[/SUP]C thì chúng sẽ nằm dài soài thân thể ra để thoát nhiệt. Tuyến mồ hôi ở thỏ thường không hoạt động. Tai được xem là bộ phận phát tán nhiệt và nhịp thở cũng được tăng cường thoát nhiệt khi nhiệt độ môi trường nóng. Nếu nhiệt độ môi trường trên 35[SUP]0</SPAN>[/SUP]C thỏ sẽ bị stress nhiệt do thân nhiệt tăng cao. Thỏ có ít tuyến mồ hôi dưới da, thải nhiệt chủ yếu qua đường hô hấp, trời nóng quá thì thỏ thở nhanh nếu nhiệt độ lên 45[SUP]0</SPAN>[/SUP]C thì thỏ có thể chết nhanh. Thỏ rất nhạy cảm với ẩm độ thấp (40-50%), nhưng ẩm độ quá cao cũng không thích hợp. Ẩm độ trong không khí từ 70-80% là tương đối thích hợp đối với thỏ. Nếu ẩm độ quá cao và kéo dài thì thỏ dễ bị cảm lạnh và viêm mũi. Thỏ rất thích điều kiện thông thoáng, thông gió, sự lưu chuyển của không khí vào khoảng 0.3m/giây là thích hợp nhất. Tuy nhiên nếu có gió thổi trực tiếp vào cơ thể thỏ sẽ gây viêm phổi và cảm lạnh.</SPAN>
      Thân nhiệt, nhịp tim và nhịp thở </SPAN>
      Nhiệt độ cơ thể của thỏ phụ thuộc và tăng theo môi trường không khí từ 38-41[SUP]0</SPAN>[/SUP]C trung bình là 39.5[SUP]0</SPAN>[/SUP]C. Nhịp tim của thỏ rất nhanh từ 120 đến 160 lần/phút. Tần số hô hấp bình thường là 60 - 90 lần/phút. Thỏ bình thường thở nhẹ nhàng. Nếu thỏ lo sợ vì tiếng động, âm thanh lớn hay bị chọc phá hoặc trời nóng bức, chuồng trại chật hẹp không khí ngột ngạt thì các chỉ tiêu sinh lý đều tăng. Do vậy sự tăng các chỉ tiêu sinh lý là điều cần tránh bằng cách tạo môi trường sống thích hợp cho thỏ như thông thoáng, mát mẻ và yên tĩnh. </SPAN>
      Bảng 2. Sự thải nhiệt ra ngoài, thân nhiệt của trực tràng và nhiệt độ tai thỏ dựa vào nhiệt độ không khí</SPAN>
      [TABLE]
      <TBODY>[TR]
      [TD]Nhiệt độ không khí ([SUP]0</SPAN>[/SUP]C)</SPAN>
      [/TD]
      [TD]Tổng số nhiệt thải ra (W/kg)</SPAN>
      [/TD]
      [TD]Nhiệt thải ra từ bên trong (W/kg)</SPAN>
      [/TD]
      [TD]Thân nhiệt ([SUP]0</SPAN>[/SUP]C)</SPAN>
      [/TD]
      [TD]Nhiệt độ tai thỏ ([SUP]0</SPAN>[/SUP]C)</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]5</SPAN>
      [/TD]
      [TD]5,3</SPAN>
      [/TD]
      [TD]0,54</SPAN>
      [/TD]
      [TD]39,3</SPAN>
      [/TD]
      [TD]9,6</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]10</SPAN>
      [/TD]
      [TD]4,5</SPAN>
      [/TD]
      [TD]0,57</SPAN>
      [/TD]
      [TD]39,3</SPAN>
      [/TD]
      [TD]14,1</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]15</SPAN>
      [/TD]
      [TD]3,7</SPAN>
      [/TD]
      [TD]0,58</SPAN>
      [/TD]
      [TD]39,1</SPAN>
      [/TD]
      [TD]18,7</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]20</SPAN>
      [/TD]
      [TD]3,5</SPAN>
      [/TD]
      [TD]0,79</SPAN>
      [/TD]
      [TD]39,0</SPAN>
      [/TD]
      [TD]23,2</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]25</SPAN>
      [/TD]
      [TD]3,2</SPAN>
      [/TD]
      [TD]1,01</SPAN>
      [/TD]
      [TD]39,1</SPAN>
      [/TD]
      [TD]30,2</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]30</SPAN>
      [/TD]
      [TD]3,1</SPAN>
      [/TD]
      [TD]1,26</SPAN>
      [/TD]
      [TD]39,1</SPAN>
      [/TD]
      [TD]37,2</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]35</SPAN>
      [/TD]
      [TD]3,7</SPAN>
      [/TD]
      [TD]2,0</SPAN>
      [/TD]
      [TD]40,5</SPAN>
      [/TD]
      [TD]39,4</SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      </TBODY>[/TABLE]


      Đặc điểm về khứu giác </SPAN>
      Cơ quan khứu giác của thỏ rất phát triển, nó có thể ngửi mùi mà phân biệt được con của nó hay con của con khác. Xoang mũi thỏ có nhiều vách ngăn chi chít có thể ngăn chặn được các tạp chất bẩn trong không khí bụi hoặc từ thức ăn. Các chất dơ bẩn tích tụ tại đây có thể kích thích mũi thỏ, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển gây viêm nhiễm đường hô hấp. Vì thế môi trường sống và thức ăn của thỏ cần được sạch sẽ nếu cho thức ăn hỗn hợp dạng bột thì cần phải làm cho ẩm hoặc đóng thành viên. Lồng thỏ ở phải dọn sạch sẽ tránh bụi bặm, cần được vệ sinh lồng chuồng thường xuyên. Hết sức chú ý đến các loại thức ăn rau cỏ còn dư lại trong lồng làm cho bị ẩm mốc và ẩm độ cao trong lồng dễ gây bệnh đường hô hấp cho thỏ. Trường hợp muốn ghép thỏ sơ sinh vào thỏ mẹ khác để nuôi ta nên sử dụng một số chất có mùi thoa trên cả thỏ con của thỏ mẹ và thỏ con ghép vào để thỏ mẹ không phân biệt được, để sau một giờ nhốt chung mà thỏ mẹ không phân biệt được thì coi như là sự ghép thành công.</SPAN>

      Đặc điểm về thính giác và thị giác </SPAN>
      Cơ quan thính giác thỏ rất tốt. Thỏ rất nhạy cảm với tiếng động dù là rất nhẹ chúng cũng phát hiện và chúng cũng rất nhát dễ sợ hải, do vậy trong chăn nuôi tránh tiếng động ồn ào cho thỏ. Trong đêm tối mắt vẫn nhìn thấy mọi vật, do vậy thỏ vẫn có thể ăn uống ban đêm cũng như là ban ngày. </SPAN>










      Sự tiêu hóa </SPAN>
      [​IMG]</SPAN>a. Cơ thể học hệ tiêu hoá </SPAN></SPAN>










      Hình 1. Hệ tiêu hoá</SPAN>
      Ở thỏ trưởng thành chiều dài hệ tiêu hoá có thể 4,5-5,0m. Sau ống thực quản ngắn là dạ dày đơn của thỏ chứa khoảng 60-80g thức ăn. Ruột non dài khoảng 3m và có đường kính 1cm. Cuối ruột non là tiếp giáp với manh tràng bộ phận tích trữ và tiêu hoá thức ăn này có chiều dài khoảng 40-45cm với đường kính 3-4cm. Nó chứa được 100-120g một hỗn hợp chất chứa đồng nhất với tỉ lệ chất khô khoảng 20%. Kế đến là ruột già với chiều dài khoảng 1,5m. Hệ tiêu hoá của thỏ phát triển rất nhanh trong giai đoạn thỏ đang tăng trưởng. Hai tuyến chính tiết vào ruột non là gan và tụy tạng. Dịch mật thỏ chứa nhiều chất hữu cơ nhưng không có enzyme. Dịch tụy chứa những enzyme tiêu hoá protein (trypsin, chymotrypsin), tinh bột (amylase), và mỡ (lipase).</SPAN>

      Sinh lý tiêu hóa </SPAN></SPAN>
      Thức ăn nhanh chóng đi vào dạ dày, đây là môi trường acid và thức ăn lưu lại khoảng 3 – 6giờ và có những thay đổi nhỏ về mặt hoá học. Bằng những sự co thắt mạnh chất chứa trong dạ dày được đẩy vào ruột non. Đầu tiên chất chứa sẽ được hoà tan với dịch mật và sau đó là dịch tụy. Sau tác động của enzyme các nguyên tố nhỏ được giải phóng ra và được hấp thu qua thành ruột non. Những mảnh thức ăn chưa được tiêu hoá có thể lưu ở ruột non khoảng 1 giờ 30 phút.</SPAN>
      Sau đó chúng được đ1i vào manh tràng và có thể lưu lại ở đó 2 – 12giờ và sẽ được tiêu hoá bởi các enzyme của vi sinh vật. Chủ yếu là các thức ăn xơ được tiêu hoá tại đây và tạo ra các acid béo bay hơi, để rồi chúng được hấp thu qua vách của manh tràng vào máu cho sự sử dụng của cơ thể. </SPAN>
      Phần chất chứa của manh tràng sau đó sẽ được đưa vào ruột già. Khoảng phân nửa còn lại được tiêu hoá và bao gồm cả vi sinh vật ở đây.</SPAN>
      Phần đầu của ruột già cò hai chức năng là tạo ra phân mềm và phân bình thường của thỏ. Sự tạo ra phân mềm là đặc điểm duy nhất có ở thỏ. Nếu chất chứa manh tràng đi đến ruột già vào buổi sáng sớm, nó sẽ trải qua ít thay đổi về sinh hoá học, để rồi các chất nhầy của ruột già tiết ra sẽ bao quanh các chất chứa này gọi là viên phân mềm. Còn nếu chất chứa manh tràng đi đến ruột già vào các thời gian khác nhau trong ngày thì những phản ứng hoá học của phần ruột già trước sẽ hoàn toàn khác. Trong trường hợp này sẽ tạo ra các viên phân cứng do ít nước. Các viên phân cứng sẽ được đẩy ra ngoài bình htường trong khi phân mềm sẽ được thỏ thu hồi trở lại bằng việc thỏ sẽ nút các viên phân này khi chúng ra khỏi hậu môn rồi thỏ sẽ nuốt mà không phải nhai lại gì cả (Ceacotrophy). Thỏ cũng có thể nhận biết phân mềm ngay khi chúng lọt ra rớt trên sàn lồng để ăn trở lại. Viên phân mềm có giá trị protein và vitamin cao hơn so với viên phân cứng. Liên quan đến vấn đề này, một số lượng thức ăn của thỏ sẽ được sử dụng trở lại từ 2-4 lần. Do vậy tuỳ theo loại thức ăn tiến trình tiêu hoá thức ăn của thỏ có thể từ 18 – 30 giờ, trung bình là 20 giờ.</SPAN>
      Manh tràng lớn gấp 5 đến 6 lần dạ dày và nhu động của ruột yếu do đó thức ăn nghèo chất xơ hoặc chứa nhiều nước (thức ăn thô xanh, củ quả) dễ phân huỷ tạo thành các chất khí làm thỏ dễ chướng bụng đầy hơi, ỉa chảy.</SPAN>

      Sinh lý sinh sản </SPAN>
      a. Cấu tạo cơ quan sinh dục </SPAN>
      - Cơ quan sinh dục đực</SPAN>
      Cơ quan sinh dục thỏ đực có các phần chính như là các loài gia súc khác như dịch hoàn, ống dẫn tinh, các tuyến sinh dục và dương vật (hình 2a). Tuy nhiên thỏ có vài đặc điểm sau: có thể co rút dịch hoàn khi sợ hãi hay xung đột với các con đực khác và dịch hoàn hiện diện rõ khi thỏ đực được khoảng 2 tháng. </SPAN>
      Cơ quan sinh dục cái</SPAN>
      Ở con cái, buồng trứng có dạng oval và không vượt quá 1 – 1,5cm, phía dưới buồng trứng (noãn sào) là ống dẫn trứng nối liền với 2 sừng tử cung độc lập 2 bên khoảng 7cm và thông với phần trên âm đạo bằng cổ tử cung (hình 2b). Toàn bộ bộ phận sinh dục được đỡ bởi những sợi dây chằng lớn đính vào 4 điểm dưới cột sống. </SPAN>




      b. Hoạt động sinh lý sinh dục của thỏ </SPAN></SPAN>
      - Thỏ đực:</SPAN>
      Tuyến sinh dục phát tiển nhanh chóng bắt đầu từ 5 tuần tuổi, tuy nhiên sự sản xuất tinh trùng bắt đầu khoảng 40 – 50 ngày tuổi. Ống dẫn tinh sẽ hoạt động khoảng 80 ngày tuổi. Tinh trùng được phóng ra hiện diện lần đầu khoảng 110 ngày, nhưng chúng trong thời gian này rất yếu, sức sống kém. Sự trưởng thành sinh dục của thỏ Newzealand khoảng 32 tuần tuổi trong điều kiện ôn đới, dù vậy những thỏ đực trẻ có thể sử dụng cho sự phối giống sinh sản khoảng 20 tuần. </SPAN>
      Trong thực tế sự bộc lộ những tập tính phối giống của thỏ là khoảng 60 –70 ngày tuổi khi thỏ có biểu hiện đầu tiên nhảy cởi trên những thỏ khác. Thời gian có thể cho thỏ đực nhảy cái lần đầu nên là 135 – 140 ngày tuổi. Lượng tinh dịch của thỏ là 0.3 – 0.6ml trong một lần phóng tinh. Mật độ khoảng 150 – 500 x 10[SUP]8 </SPAN>[/SUP]tinh trùng/ml. Lượng tinh trùng sản xuất ra tối đa khi sử dụng thỏ đực nhảy cái 1 lần trong ngày. Nếu sử dụng thỏ đực 2 lần trong ngày thì mật độ tinh trùng giảm đi phân nửa. Tuy nhiên trong thực tế thỏ đực được sử dụng 2 lần/ngày, hay 3 – 4 lần/tuần mật độ tinh trùng đủ để gây thụ thai. Nếu sử dụng đực phối nhiều lần trong ngày, trong tuần quá mức nói trên có thể ảnh huởng kém đến sự thụ thai. </SPAN>

      - Thỏ cái: </SPAN>
      Nang noãn xuất hiện lần đầu khoảng 65 – 70 ngày. Thỏ cái có thể phối giống 10 – 12 tuần tuy nhiên trong lúc này thỏ chưa có sự rụng trứng. Những biểu hiện phái tính của thỏ giống nhỏ con và thỏ trung bình (4 – 6 tháng) thì sớm hơn thỏ giống lớn con (5- 8 tháng). Ở Châu Âu thỏ cái được phối khoảng 120 – 130 ngày thì cho thành tích rất tốt. Sự phát triển cơ thể thỏ cái liên hệ thuận với sự thành thục của thỏ. Những thỏ cái tơ nếu cho ăn đầy đủ thì có thể dậy thì sớm hơn thỏ nuôi trong điều kiện chỉ nhận 75% với khẩu phần tương đương khoảng 3 tuần lễ, và như thế sự phát triển cơ thể sẽ chậm đi 3 tuần. Thỏ bắt đầu thành thục tính dục khi đạt thể trọng khoảng 75% trọng lượng trưởng thà</SPAN>
      Ở thỏ cái thì không có chu kỳ lên giống đều đều, cũng như không có sự rụng trứng đồng thời trong thời gian lên giống như các loài gia súc khác (Lebas et al., 1986). Khác với những gia súc khác, ở thỏ nhờ có xung động hưng phấn, khi giao phối mới xảy ra rụng trứng. Sau khi phối 10 – 12 giờ các túi trứng mới bắt đầu phá vở, trứng qua loa kèn vào ống dẫn trứng và đến vị trí thụ tinh. Thời gian cần thiết để trứng di chuyển gặp tinh trùng từ khi rụng là 4 giờ, trên cơ sở đó người ta đã áp dụng phương pháp bổ sung phối lại lần thứ 2 sau lần thứ nhất 6 giờ, nhằm tăng thêm số trứng thụ tinh và đẻ nhiều con. Biểu hiện âm hộ có màu đỏ có thể xem như là biểu hiện lên giống, thời điểm này thỏ cái chấp nhận cho thỏ đực nhảy và tỉ lệ mang thai lên đến 90%. Sau khi thỏ cái động dục sau 2 – 3 ngày, thỏ có bản năng nhặt cỏ, rác vào ổ đẻ, cào bới ổ, tự nhổ lông bụngnh. Điều chú ý là thỏ cái tơ chấp nhận cho thỏ đực nhảy trước khi có khả năng rụng trứng và chọn đồ để lót làm ổ ấm rồi mới đẻ con, sau khi đẻ thỏ mẹ phủ lông kín cho đàn con.</SPAN>

      Sinh lý cho sữa </SPAN>
      Sự tổng hợp sữa ở thỏ phụ thuộc vào hormon prolactin và Lactogenic hormon. Trong giai đoạn có thai Prolactin sẽ bị ức chế bởi estrogen và progesterone. Khi thỏ đẻ một sự hạ thấp mức độ progeterone nhanh trong máu. Oxytocin và prolactin sẽ được tiết tự do và tạo nên sự tổng hợp sữa và thải sữa ra ngoài. Sữa sẽ thải ra như sau: thỏ mẹ vào ổ cho con bú, các kích thích từ sự cho bú sẽ làm cho sự tiết ra oxytocin và như thế sữa sẽ được thải ra cho con bú. Lượng oxytocin tiết ra tỷ lệ thuận với số lần cho con bú, tuy nhiên thỏ mẹ sẽ chủ động số lần cho bú trong ngày. Thường thỏ cái cho hai lần bú trong một ngày. Sự theo bú mẹ sẽ không tạo ra sự tiết oxytocin mà tuỳ theo thỏ mẹ có muốn cho con bú hay không. Sữa thỏ có giá trị dinh dưỡng cao (13%CP) hơn sữa bò, sau khi đẻ 3 tuần sữa thỏ trở nên giàu đạm và mỡ sữa (tăng 20 – 22%). Lượng sữa trong 2 ngày đầu khoảng 30 – 50g sẽ tăng đến 200 – 300g vào tuần lễ thứ 3. Nó sẽ giảm nhanh sau đó đặc biệt là trong trường hợp thỏ có mang.</SPAN></SPAN>

      CHƯƠNG 3</SPAN>
      GIỐNG VÀ CÔNG TÁC GIỐNG THỎ</SPAN>

      I. SỰ THUẦN HÓA </SPAN>

      Các giống thỏ nhà trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ thỏ rừng (Orytolaguc cuniculus) thuộc Họ thỏ nhà và thỏ rừng (Leporidae), trong Bộ gậm nhấm riêng biệt có răng cửa kép (Lagomorpha), của Lớp động vật có vú (Mammalia) </SPAN>
      Nói chung sự thuần hoá thỏ rừng thành thỏ nhà chỉ khoảng vài trăm năm gần đây. Thỏ rừng ở Châu Âu được phát hiện bởi những nhà ngữ âm học khi họ đến bờ biển Tây Ban Nha vào năm 1000 trước công nguyên. Thỏ là biểu tượng của Tây Ban Nha vào thời kỳ La Mã. Từ đầu thế kỹ 19 việc nuôi thỏ đã phát triển khắp Tây Âu và được người Châu Âu đưa thỏ đi du nhập ở tất cả các nước trên thế giới. Cuối thế kỹ 19 và nhất là đầu thế kỹ 20 cùng với phương pháp nuôi nhốt cùng với các giống thỏ đã thích nghi với điều kiện nuôi nhốt đã được chọn lọc và thay đổi dần về ngoại hình, sinh lý thích nghi với hoàn cảnh cụ thể và khả năng sản xuất phù hợp với nhu cầu thâm canh cùng với các kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến đáp ứng nhu cầu sản xuất và lợi nhuận, bệnh tật của thỏ ngày càng được nghiên cứu và khống chế cũng như là có thể điều trị và phòng ngừa được càng ngày càng phát triển với mục đích sản xuất thịt thỏ để làm động vật thí nghiệm và làm sinh vật cảnh. </SPAN>

      II. CÁC GIỐNG THỎ </SPAN>

      Hiện nay chăn nuôi thỏ khá phát triển chủ yếu là nuôi thỏ hướng thịt hoặc nuôi thỏ kiêm dụng lấy thịt và lông len. Do vậy có nhiều giống thỏ lớn con dùng sản xuất thịt ở Châu Âu, Châu Mỹ và một số giống thỏ nhỏ con ở các nước nhiệt đới phát triển tại địa phương hay từng quốc gia. Bên cạnh đó cũng có một số giống chuyên sản xuất lông len chủ yếu là ở nước ôn đới. Nuôi thỏ hướng thịt thường chọn giống có tầm vóc khá lúc trưởng thành có trọng lượng 4,5 đến 5 kg; cũng chú ý những giống thỏ này có bộ xương nhỏ có tỷ lệ thịt xẻ cao. Một cách chung nhất người ta chia thỏ dựa theo tầm vóc: nhóm nặng ký (Trọng lượng trưởng thành hơn 5kg) như Bouscat Giant White, French and French Giant Pabillon; nhóm trung bình (Trọng lượng trưởng thành hơn 3,5-4,5kg) như Californian, New Zealand White, Grand Chinchilla,… nhóm thỏ nhẹ cân (trọng lượng trưởng thành từ 2,5-3kg) như Small Chinchilla, Duch and French Havana, Himalayan,… và nhóm nhỏ con (trọng lượng trưởng thành hơn 1kg). Dưới đây là một số giống thỏ hướng thịt chủ yếu và phổ biến ở Việt Nam:</SPAN>

      Thỏ Newzeland trắng </SPAN>
      [​IMG]</SPAN>
      Giống thỏ này được nuôi ở nhiều nước và phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới ở Việt Nam do khả năng thích nghi với các điều kiện sống cao. Giống thỏ này có toàn thân màu trắng, lông dày, mắt đỏ như hòn ngọc, có tầm vóc trung bình, thỏ trưởng thành nặng khoảng 4,5 - 5 kg. Mỗi năm thỏ đẻ trung bình 5 - 6 lứa mỗi lứa đẻ trung bình từ 6 -7 con. Như vậy đối với giống thỏ này một thỏ cái trung bình cho 20 - 30 con/năm. Thỏ cai sữa thường được nuôi vỗ béo đến 90 ngày tuổi thì giết thịt. Như vậy môt thỏ mẹ trong một năm có thể sản xuất từ 30 - 45 kg trọng lượng sống nếu nuôi tốt có thể đạt 60 - 90 kg và thêm từ 20 – 30 tấm lông da.</SPAN>


      Thỏ Californian </SPAN>
      [​IMG]
      Giống thỏ này được tạo ra và phát triển từ Mỹ (khoảng 1920) từ 2 giống New Zealand White và Himalyan và sau đó có sự tham gia của giống Chinchilla với mục đích tạo ra giống thỏ có thịt và len có chất lượng cao. Chúng được nhập vào từ Anh lần đầu tiên vào năm 1958. Tuy nhiên đến năm 1960 mới công bố chính thức với số lượng 400 con.</SPAN>
      Đây là giống thỏ tạo ra được lợi tức cao cho người nuôi thỏ thương phẩm. Đặc điểm của giống thỏ này là có bộ lông màu trắng tuyết, trừ hai tai thỏ có màu đen, mũi, đuôi và 4 chân có màu tro hoặc màu đen. Thỏ trưởng thành có trọng lượng 4 - 4,5 kg, con đực nặng từ 3,6 - 4,5 kg con cái nặng 3,8 - 4,7 kg. Mỗi năm thỏ đẻ khoảng 5 lứa. Mỗi năm thỏ đẻ khoảng 5 lứa mỗi lứa khoảng 5-6 con. Thỏ này đã nhập vào nước ta ở Sơn Tây (1977) và đã thích nghi với điều kiện khí hậu và nuôi dưỡng chăm sóc. Thỏ Californian có tầm vóc trung bình, tỷ lệ thịt xẻ cao từ 55 - 58 % chúng được nuôi phổ biến trên thế giới và đã trở thành giống thỏ thịt đứng thứ hai trên thế giới (Sandford, 1996). Tuy nhiên qua thử nghiệm 3 năm nuôi ở ĐBSCL với các loại thức ăn thông thường, giống thỏ thuần Californian tương đối khó nuôi, đẻ kém và tỉ lệ thỏ con hao hụt cao so với thỏ thuần New Zealand.</SPAN>
      [​IMG][​IMG][​IMG][​IMG]Nhóm thỏ Việt Nam</SPAN>








      Thỏ đen và thỏ khoang trắng đen</SPAN>
      Nhóm thỏ ở Việt Nam được du nhập từ Pháp vào khoảng từ 70 - 80 năm trước đây. Chúng đã được lai tạo giữa nhiều giống khác nhau, nên đã có nhiều ngoại hình và tầm vóc khác nhau, phần lớn có màu lông ngắn, màu đen, trắng mốc, khoang trắng đen, trắng vàng, trắng xám có thể trọng khoảng 2 kg, Người ta thường gọi tên theo màu sắc lông như thỏ Dé thì nhỏ con, nhẹ cân, có trọng lượng 2,2-2,5kg. Nhìn chung nhóm thỏ này có màu lông khoang, lang hay đốm, trắng, vàng đen, xám riêng màu lông ở phần dưới bụng, ngực, đuôi có màu xám nhạt hơn hoặc màu xám trắng. Màu mắt đen, đầu nhỏ lưng khum trọng lượng trưởng thành 2,5-3kg; và thỏ đen có lông ngắn, có màu đen tuyền, màu mắt đen, đầu to vừa, miệng nhỏ bụng thon, bốn chân dài thô, xương thô. Trọng lượng trưởng thành 2,6-3,2kg. Một vài nơi có các giống thỏ lông xù màu trắng do có màu của giống Angora. </SPAN>
      Đặc điểm sinh sản của hai giống thỏ màu xám và màu đen của Việt Nam có khác so với thỏ mới nhập nội và thỏ lai thương phẩm khác. Chúng vẫn còn bảo tồn tính năng sản xuất của thỏ rừng xa xưa như động dục sớm 4,5 - 5 tháng tuổi, mắn đẻ sau khi đẻ từ 1 đến 3 ngày đã chịu đực phối giống lại, thỏ vừa tiết sữa vừa nuôi con và có chữa nên nếu gia đình có điều kiện tốt thì thỏ sẽ đẻ liên tục, mỗi năm từ 7 đến 8 lứa và giao động từ 4 - 11con/ lứa. Một trong những tập tính của thỏ là nhổ lông làm ổ đẻ, đối với tập tính này thỏ đen và xám của Việt Nam thể hiện rõ hơn so với thỏ nhập nội. Các thỏ trước khi đẻ thường tự lấy rác, rơm cỏ vào trong ổ và tự nhổ nhiều lông bụng lông ngực để trộn thành tổ ấm mềm, để đẻ con trong đó, ít có trường hợp đẻ con ngoài ổ. Sức đề kháng tốt của thỏ Việt Nam và thỏ Lai được thể hiện rõ nét hơn thỏ nhập nội điều này thể hiện qua một số chỉ tiêu sinh lý.</SPAN>
      [​IMG]</SPAN>






      Nhóm thỏ Lai ở ĐBSCL</SPAN>
      Nhóm thỏ lai ở vùng ĐBSCL được lai tạo từ các giống thỏ ngoại nhập vào Việt Nam những năm 90 với thỏ lai địa phương, chúng có tầm vóc khá, màu sắc đa dạng pha trộn giữa các giống như New Zealand, Chinchilla, Californian, English Spot, v..v… Trong điều kiện nuôi dưỡng còn hạn chế về dinh dưỡng hiện nay với thức ăn thô xanh và bổ sung các loại phụ phẩm thỏ cái trưởng thành (đẻ lứa 3) đạt 3,2 - 3,8 kg. Thỏ thịt nuôi từ 4 - 4,5 tháng đạt 2,2 - 2,4 kg. Đây là nhóm thỏ được nuôi chủ yếu ở ĐBSCL cho thịt rất hiệu quả vì tận dụng được nguồn thức ăn rau cỏ địa phương.</SPAN>
      Những đặc điểm giống và khả năng sản xuất của thỏ phụ thuộc vào môi trường sống và kinh nghiệm phát triển của nhà nhân giống. Sự so sánh những kết quả từ những môi trường và địa lý khác nhau có thể cho thấy những đặc tính chung của giống. Tính mắn đẻ, mức tăng trọng và sự phát triển các cơ quan, tổ chức của cơ thể ở thỏ tơ là 3 đặc tính cơ bản của giống. </SPAN>

      a. Tính đẻ sai con: </SPAN></SPAN>
      Được đo lường bằng số thỏ con sống hay tổng số thỏ sơ sinh. Số lượng con trong bầy tăng khoảng 10-20% từ lứa đầu tiên cho đến lứa thứ hai. Tuy nhiên sẽ không có sự khác biệt từ lứa thứ ba đến lứa thứ tư và từ lứa thứ tư trở đi thì số lượng thỏ sơ sinh trong bầy sẽ giảm. Sự đồng huyết trong nhân giống cũng sẽ làm giảm tính đẻ sai con. Nó còn phụ thuộc vào mùa và năng suất sinh sản của thỏ cái. Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến sự đẻ sai là số trứng rụng và sau đó là khả năng sống của phôi. Giống thỏ khác nhau cũng cho năng suất sinh sản khác nhau.</SPAN>

      b. Tăng trọng và thành phần cơ thể: </SPAN></SPAN>
      Mức độ tăng trọng của thỏ tơ thì tương quan chặt chẻ với tầm vóc và trọng lượng trưởng thành của chúng trong trường hợp không có sự khiếm khuyết dưỡng chất trong khẩu phần đáng ghi nhận. Sự biến động và thành phần cơ thể thì lớn ở các giống thỏ được nuôi, ví dụ giống thỏ New Zealand White và Himalyan. Tăng trọng và mức độ tăng trưởng của những tổ chức chính phụ thuộc vào đặc điểm sinh học của giống và sự nuôi dưỡng. Do vậy chỉ tiêu mô tả về giống trong một môi trường sản xuất nhất định nên là tuổi trưởng thành. Những giống được chú ý trên quan điểm sản xuất là tỉ lệ tốt nhất giữa tăng trọng và trọng lượng trưởng thành mà nó đến sớm ở một trọng lượng sống thích hợp cho thị trường. Những giống nhẹ cân có thể được tận dụng như là những giống thuần hay tốt hơn là lai với những giống có trọng lượng trung bình để sản xuất ra quầy thịt có sự phát triển cơ tốt và thịt có chất lượng có nhu cầu tiêu thụ. </SPAN>

      c. Sự di truyền về đặc điểm giống </SPAN></SPAN>
      Sự cải thiện di truyền về đặc điểm giống thích hợp cho môi trường sản xuất phụ thuộc vào tính biến động di truyền đặc trưng mà nó bộc lộ ra môi trường. Tính biến động là sự bộc lộ về những khác biệt di truyền mà trong chọn lọc và nhân giống cố gắng để khám phá chúng. Câu hỏi đặt ra ở đây là làm sau có thể khám phá ra tính biến động di truyền trong sản xuất qui mô nhỏ. Nâng cao tiềm năng của giống phụ thuộc vào đặc tính sinh học, ưu thế của sự sinh sản và sự tính toán các thông số di truyền cho sự chọn lọc.</SPAN>

      Cách chọn thỏ giống</SPAN>
      Nếu ta biết cách “ nuôi heo chọn nái” thì nuôi thỏ cũng vậy. Nên chọn giống tốt mà nuôi. Giống tốt ở đây là giống lớn con, đẻ sai và nuôi con giỏi.</SPAN>



      1. Giống lớn con:</SPAN>

      Nuôi thỏ nhiều lợi là phải chọn nuôi giống thỏ lớn con. Hiện nay trên thị trường có nhiều giống thỏ lớn con, cân nặng tử 3 đến 4 ký. Trước đây, có nhiều giống cực lớn như giống thỏ nâu của pháp nặng đến 7-8kg, dài khoảng năm sáu mươi cm, ai nhìn cũng ham nuôi. Nay giống rặc không còn, nhưng thỏ lai khoảng ba bốn ký thì có. Thỏ chúng ta nuôi ngày nay hầu hết là thỏ lai. Giống lai thường dễ nuôi, do hợp với thủy thổ.</SPAN>
      Nhìn vào thỏ con, thỏ lức, để đoán biết sau này chúng lớn con hay không ta nên nhìn vào cặp tai của chúng. Con nào tai lớn và dài thì đó là giống lớn con. Có thể quan sát thêm phần thân mình và bộ chân. Thỏ lớn con thân mình dài (dài đòn) và chân cao to.</SPAN>
      Trước đây, ta có những giống thỏ sau:</SPAN>

      Thỏ pháp: </SPAN>
      Có ba màu lông trắng, nâu và vàng. Giống này lớn con, rất khỏe, con được nặng bảy tám ký, con cái bốn năm ký.</SPAN>

      Thỏ angora: </SPAN>
      Đây là dioongs thỏ có sức lớn trung bình, màu lông thường trắng và khoang. Đặc biệt của giống thỏ này là long rất dày nên trông rất đẹp. thỏ angora nặng khoảng chừng ba ký mà thôi.</SPAN>

      Thỏ newzealand: </SPAN>
      Đa số trắng, cũng có con xám hoặc nâu. Giống này khoảng ba bốn ký nếu nuôi đúng mức.</SPAN>
      Thông thường, theo tâm lý chung, người nào nuôi thỏ cũng thích chọn giống lớn con, như vậy nuôi mới có lợi.</SPAN>
      Nếu chỉ khai thác thỏ con, thì người mua cũng nhìn mẹ mới mua con. Vì vậy, với thỏ làm giống ta nên chọn những con “tốt tướng” mà nuôi.</SPAN>
      Về màu sắc, người mua thích chọn những con màu trắng, kế đó là nâu hay vàng. Giống thỏ khoang cũng lắm người nuôi, nhưng thỏ có toàn long đen thì bị chê. Tất nhiên nuôi thịt thì không thành vấn đề, màu gì cũng được. miễn nặng cân là tốt.</SPAN>

      2. Giống đẻ sai và nuôi con giỏi:</SPAN>

      Không tài nào biết được giống thỏ nào đẻ sai và nuôi con giỏi để chọn lựa từ lúc thỏ còn nhỏ về làm giống. thật ra đẻ sai và nuôi con giỏi là tùy vào đặc tính của từng con chứ không phải từng giống. thông thường đa số đều đé sai và nuôi con giỏi, chỉ có một số ít thì không mắn đẻ lại “sát” con. Sát con là do mẹ vụng về đè con chết (thường là con dưới 1 tuần tuổi), hai là không lo cho con bú no nê khiến chúng suy dinh dưỡng dần mà chết. Cách khắc phục cần bắt thỏ con sau khi sinh ra 1 cái rỗ đem ra ngoài. Khoảng 1 tuần sau thì thỏ con lớn rồi thì đem lại cho thỏ mẹ nuôi. Chỉ cần 1 ngày 2 lần đem thỏ con vào cho mẹ của chúng cho bú. Điều này giúp cho đàn thỏ con phát triễn đều và mạnh khỏe không bị mẹ chúng đạp chết. Ban đầu mất công nhưng thỏ con không chết con nào.</SPAN>
      Điều này có nghĩa là, khi mua thỏ mẹ(thỏ đã sinh sản) về nuôi, ngoài việc chọn những thỏ mẹ chưa quá già, ta nên chọn những thỏ mẹ đang nuôi con để biết sự sinh sản của chúng ra sao. </SPAN>

      III. PHƯƠNG PHÁP CHỌN LỌC VÀ NHÂN GIỐNG THỎ </SPAN>

      Tiến trình chọn lọc và lai giống thỏ tập trung trong một qui mô sản suất thương mại ở các nước ôn đới thì không cần thiết. Tuy nhiên ở qui mô nhỏ từ 10 dến 60 thỏ cái của quần thể thỏ địa phương được cho phối từ những con đực và cái nhập của các giống thỏ khác nhau nhằm để tăng chất lượng đàn giống là cần thiết. </SPAN>
      Sự cải thiện di truyền một cách hiệu quả trong tiến trình chọn lọc và nhân giống nên là nổ lực theo nhóm với sự hổ trợ về khoa học và kỹ thuật từ các tổ chức nghiên cứu và phát triển. Chương trình cải tiến có thể tập trung ở một xã hay thích hợp hơn là một nhóm xã, hay cũng có thể là một số trại thỏ ở một số Tỉnh trên toàn quốc. Trong trừơng hợp này chương trình đòi hỏi sự chuyển hoá kỹ thuật. Do vậy nên có những nhà nhân giống với những đơn vị có qui mô lớn từ 100- 200 thỏ cái sinh sản. Những nhà chọn lọc và nhân giống này nên có kinh nghiệm bằng việc sử dụng các hệ thống sản xuất đáp ứng tốt với điều kiện và nguồn lực tại địa phương. Những phương tiện sử dụng hiện đại và phức tạp nên được tránh, tuy nhiên cần đặc biệt chú ý đến việc tiến hành trong hoàn cảnh những trại thỏ thương phẩm tốt nhất. Vệ sinh và sức khoẻ của thỏ phải được đặc biệt chú ý. Đơn vị chọn lọc phải có hiệu quả ở hai mức độ là nhân giống và sản xuất. </SPAN>

      1. Các phương pháp chọn lọc </SPAN>

      a. Chọn lọc quần thể </SPAN></SPAN>
      Căn cứ vào giá trị trung bình của các tính trạng như số lứa đẻ/năm, số con trên/lứa, trọng lượng sơ sinh toàn ổ và trọng lượng bình quân/con chọn lọc theo gia đình, chúng ta giữ lại những gia đình từ giá trị trung bình trở lên của giống hoặc loại thải những gia đình có thành tích dưới mức trung bình của giống theo yêu cầu chọn lọc của chúng ta. </SPAN>
      Ví dụ đối với giống thỏ Califonian, người ta thường chọn những gia đình thỏ đạt kết quả bình quân khá về các đặc tính sản xuất như: Một năm đẻ 5 lứa trở lên, mỗi lứa đẻ 6 con nuôi sống, trọng lượng con sơ sinh là 50gam và trọng lượng toàn ổ là từ 300g trở lên. </SPAN>

      b. Chọn lọc cá thể </SPAN></SPAN>
      Đây là điểm quan trọng để có những cá thể tốt đưa vào tiến trình nhân giống cá thể phải được ghi chép các thành tích đầy đủ để đánh giá và quyết định nên loại thải hay sử dụng tiếp tục trong tiến trình nhân giống. Cần chú ý những đặc tính sản xuất và đặc điểm</SPAN>
      Đầu tiên phải chú ý đến con cái và con đực không bị khuyết điểm ở bộ phận sinh dục, con đực hai dịch hoàn phải đều, con cái phải có 8 vú trở lên. Việc lựa cá thể nên bắt đầu khoảng 21 ngày tuổi, khi khảo sát lúc 70 ngày tuổi nếu thỏ không đạt yêu cầu đặt ra thì phải loại thải ngay. Lúc thỏ đạt 6 tháng tuổi nếu không đủ tiêu chuẩn thì vẫn tiếp tục loại. Chung nhất việc chọn lọc giống thỏ thông thường được tiến hành ở các thời điểm như sơ sinh, 21, 30, 70, 90, 180 ngày tuổi. Thỏ nên được cân ở tất cả các thời điểm, nếu là giai đoạn sơ sinh và 21 ngày tuổi thì cân cả ổ rồi tính trọng lượng bình quân. Lúc 21 ngày tuổi đánh số các con đạt tiêu chuẩn trọng lượng bằng cách bấm tai và chọn thỏ dựa vào đặc điểm ngoại hình ở 6 tháng tuổi.</SPAN>

      Chọn thỏ đực làm giống</SPAN>

      Tục ngữ mình có câu: “chó giống cha gà giống mẹ”. Nghĩa là gen chó cha sẽ truyền sang chó con. Chó cha tốt thì sau này con nó sẽ mang những đặc tính tốt của chó cha. Con thỏ cũng vậy, khi chọn thỏ đực làm giống ta không nên xem thường, mà phải cẩn thận quan sát từng bộ phận một:</SPAN>
      • Phần đầu</SPAN>: không to lắm, tai lớn và dài, mắt sáng nhặm lẹ.</SPAN>
      • Phần thân</SPAN>: thân dài đòn, xương sống không cong vẹo, lông bóng và rậm. màu sắc lông chỉ là phần phụ thuộc vào ý thích của người nuôi. Thế nhưng, nếu nuôi để kinh doanh thì phải tuân theo ý của khách hàng sau này. Màu lông cũng nói lên được sức mạnh của giống thỏ: thường giống thỏ màu, như vàng, nâu, đen mạnh hơn thỏ trắng bạch.</SPAN>
      • Phần chân</SPAN>: chân mạnh, không dị tật. đôi chân sau phải nở nang, nhờ đó mà việc di chuyển của thỏ nhanh nhẹn. </SPAN>
      Cuối cùng phải coi dịch hoàn coi có đủ cặp hay không. Những con chỉ có một hòn, hoặc một hòn ‘treo’ lên trên thì dứt khoát không chọn nuôi. Hòn lớn hòn nhỏ cũng loại bỏ. dịch hoàn phải căng bóng không teo tóp mới tốt.</SPAN>
      Thỏ đực phải chọn thỏ tơ mà nuôi, vì tuổi sung sức nhất của nó là từ tháng thứ bảy đến một năm rưỡi tuổi. những thỏ đực hai năm tuổi trở lên, nhất là những con đã được cho phối giống quá nhiều cũng không nên mua nuôi.</SPAN>
      Những con thỏ già nhìn vào rất dễ biết: lông xác xơ còi cọc, răng không còn trắng nõn, mắt sâu, mí mắt nhăn lại, móng chân dài và quặp vào… cách đi đứng, chạy nhảy của thỏ già cũng chậm chạp, không nhanh nháu như thỏ tơ.</SPAN>
      Nên nhớ một con thỏ đực có thể phối cho năm bảy con thỏ cái, vì vậy cần phải chọn lựa kỹ càng. Một con thỏ đực tốt, nuôi kỹ có thể dùng được tới ba năm tuổi mới thải ra nuôi thịt.</SPAN>
      Chọn thỏ cái làm giống</SPAN>
      Trong nghề nuôi thỏ, nhiều người lầm tưởng chỉ chọn cho được con thỏ đực tốt mới là điều quan trọng, còn thỏ cái rá sao cũng được. Sự lầm lẫn đáng tiếc đó đã đem lại thất bại lớn sau này, vì bầy thỏ con sẽ không ra gì.</SPAN>
      Sự thực, thỏ cha tốt, thỏ mẹ cũng phải tốt mới được. cũng có người cho rằng không nên chọn thỏ mẹ lớn con lắm, vì những con lớn xác thường đẻ ít và chậm chạp trong việc nuôi con. Điều này là tùy vào từng con thỏ mẹ chứ không phải ở vóc dngs lớn nhỏ!</SPAN>
      Chọn thỏ mẹ tốt cũng phải quan sát từng bộ phận một, không nên xem thường:</SPAN>
      Phải tìm hiểu lý lịch của con thỏ mẹ thuộc về dòng giống nào? Cha mẹ nó tốt xấu ra sao? Mẹ nó có sinh sản tốt không? Lúc nhỏ nó có bị tật bịnh gì không?</SPAN>
      • Phần đầu</SPAN>: đầu nhỏ, tai lớn và dài, mắt sáng nhặm lẹ. Những chi tiết này cũng giống như cách chọn thỏ đực giống.</SPAN>
      • Phần thân</SPAN>: nên chọn những con có thân dài, vì thường những thỏ đẻ sai con lông bong mướt và màu lông sáng sủa dễ nhìn.</SPAN>
      • Phần chân</SPAN>: chân mạnh, không dị tật, bàn chân không sần sùi, không bị cụt móng.</SPAN>
      Chọn thỏ con làm giống</SPAN>

      Thỏ con ở đây là thỏ dưới 1,5 tháng. Thỏ trên 2 tháng tuổi gọi là thỏ lứa. </SPAN>
      Mua thỏ con biết giống tốt xấu ra sao, nếu không có kinh nghiệm thì phải căn cứ vào thỏ mẹ.</SPAN>
      Nhìn vào hình dáng và tùy vào tháng tuổi ta có thể đoán biết được tương lai con thỏ đó sẽ còn lớn đến mức nào.</SPAN>
      Tuy còn nhỏ, đối với thỏ lứa dễ đoán hơn, nhưng thỏ con cũng có những đặc điểm khá dễ dàng cho ta chọn lựa. Chẳng hạn như đôi tai lớn, dài và dày, thân hình dài (dài đòn). Điều cần là phải có sức khỏe tốt, phải sởn sơ, phải phàm ăn, lại thường tung tăng chạy nhảy trong chuồng, sắc lông tươi tắn mượt mà…</SPAN>
      Thỏ con nuôi làm giống không nên chọn đực cái trong một bầy, mà là khác bầy với nhau, như vậy mới tránh được sự đồng huyết</SPAN>
      Với thỏ lứa, việc chọn lựa có thể chỉ một lần là đủ, nhất là đối với thỏ cái. Thỏ cái ba tháng tuổi ta phải chọn lọc vài lần mới hy vọng chọn được cái tốt. đó là lần đầu mới mua về, lần thứ hai khi thỏ được 4 tháng. Lần thứ ba là sau khi đẻ được vài lứa con. Tất nhiên những thỏ sinh sản không tốt, nuôi con không ra gì, hoặc phối giống nhiều lần không đậu thai thì có nuôi tiếp cũng vô ích.</SPAN>

      2. Phương pháp nhân giống thỏ </SPAN>

      a. Nhân giống thuần </SPAN></SPAN>

      Nhân giống thuần chủng là phương pháp nhân giống trong cùng một giống tạo ra thỏ con có đặc điểm tính trạng di truyền ổn định của giống. Nó được áp dụng khi đàn thỏ bố mẹ được xác định đã có năng suất cao ổn định. Do vậy những đặc tính chắc chắn có lợi về mặt kỹ thuật và kinh tế sẽ được chọn lọc và phát huy. Sự ổn định về di truyền giống sẽ cao. </SPAN>

      Nhân giống trong dòng </SPAN>
      Là cách nhân giống nhằm tạo ra từng nhóm thỏ đã chọn lọc có tính di truyền ổn định và phẩm giống cao hơn bình thường. Để tạo ra đàn thỏ có những ưu điểm đặc biệt cần phải tiến hành chọn đôi giao phối và chọn lọc con giống qua nhiều thế hệ và có nhiều cá thể tham gia trong quá trình tạo giống. Nếu số con đưa vào chọn lọc quá ít và thời gian ngắn thì kết quả sẽ rất hạn chế. Phương pháp này cũng dẫn đến một mức độ đồng huyết nhất định. Nếu như số lượng thỏ tham gia dưới mức cho phép sẽ dẫn đến đồng huyết năng suất sẽ kém, số con chết sẽ tăng lên do hiện tượng đồng hợp tử gen xấu xuất hiện. Kinh nghiệm cho thấy nếu dòng thỏ đực dưới 40 con và 200 con cái thì không thể duy trì dòng thuần được. Nếu định duy trì dòng thuần trong công tác giống thì phải có số lượng thỏ đực và cái nhiều hơn thế hoặc là ít nhất là bằng số lượng trên. Đây là phương pháp có tầm quan trọng đặc biệt trong sự tạo ra dòng thỏ vừa có phẩm chất tốt được cải thiện vừa đảm bảo sự ổn định cao về tiềm năng di truyền, tuy nhiên có nhiều tốn kém về tài chính để loại bỏ những thỏ có khả năng làm tăng sự đồng huyết trong đàn giống. </SPAN>

      Nhân giống khác dòng </SPAN>
      Là sự cho phối giống những con thỏ khác dòng với nhau nhằm hạn chế bớt sự đồng huyết xảy ra, tuy nhiên vẫn ổn định được những tiềm năng di truyền tính trạng có lợi ích của giống.Ta có thể cho phối giống cho giao phối chỉ hai dòng hay liên tục cho phối nhiều dòng với nhau với dòng khác hoặc sau đó cho phối với thỏ dòng cũ để ổn định hay bổ sung đặc tính mới được hình thành. Thông thường phương pháp này có thể tạo ra những dòng mới thích nghi được những điều kiện nuôi dưỡng hay khí hậu ở những cơ sở khác nhau. </SPAN>

      b. Lai giống </SPAN></SPAN>
      Là sự phối giống của những thỏ đực và thỏ cái khác giống, nhằm để tạo ra con lai có các tính trạng cần thiết trung gian hay tốt hơn cả bố lẫn mẹ nó, do hiện tượng ưu thế lai được tạo ra từ các dị hợp tử. Đây có thể là phương pháp phổ biến nhằm mục đích tạo ra thỏ làm giống để sản xuất thỏ thương phẩm hay tạo ra những giống mới. Tiến trình này dùng để sản xuất con lai có năng xuất cao. Thỏ đực và thỏ cái dùng để tạo giống mới thường là giống thuần chủng khác nhau mới có thể cho kết quả cao. Chúng ta có thể lai chỉ hai giống hoặc trên hai giống, cũng có thể sau khi tạo ra giống mới ta cần phải ổn định các tính trạng di truyền của chúng bằng các phương pháp nhân giống thuần. </SPAN>

      c. Thực hành phối giống </SPAN></SPAN>
      Cần thiết cho thỏ phối giống hợp lý nhất khi nó đã thành thục về tính dục và thể trọng. Để bảo đảm tỷ lệ thụ thai cao và duy trì nòi giống tốt nên ghép đôi giao phối 1 thỏ đực với 5-7 thỏ cái (đối với cơ sở giống thỏ). Chúng ta cũng có thể ghép 1 thỏ đực với 10 thỏ cái đối với các cơ sở nuôi thương phẩm. Khi cho thỏ giao phối nên đưa con cái đến chuồng con đực, không nên làm ngược lại. Mỗi thỏ cái nên cho phối 2 lần với 1 thỏ đực cách nhau khoảng 4 - 6 giờ để có kết quả chắc chắn và số con được nhiều. Tuy nhiên làm như vậy sẽ tổn hại đến con đực, giao phối 2 lần trong 1 ngày con đực mao xuống sức và những con cái giao phối sau thỉ tỉ lệ thụ thai sẽ giảm rõ rệt. Cũng có thể tiến hành giao phối bằng cách hai lần với 1 con đực sau 5 đến 10 phút. Phương pháp này ít tốn thời gian nhưng tỷ lệ thụ thai thấp hơn 10%. Đối với các cơ sở thương phẩm cũng có thể phối giống hai thỏ đực khác nhau vì thỏ con đẻ ra đều dùng làm thỏ thương phẩm. Sau 10 ngày phối giống nên kiểm tra thai thỏ nếu không có chữa thì cho phối lại. Trong chuồng thỏ nên nhốt thỏ đực và thỏ cái vào các ngăn riêng qui định theo ghép đôi giao phối</SPAN></SPAN>

      thức ăn cho thỏ
      2. Thức ăn hỗn hợp</SPAN></SPAN>
      Hiện tại trại thỏ đang sử dụng loại thức ăn viên của HÀ LAN sản xuất loại cho cá kích cỡ 6 ly. Thành phần dinh dưỡng:</SPAN></SPAN>
      [TABLE]
      <TBODY>[TR]
      [TD]Đạm</SPAN></SPAN>
      [/TD]
      [TD]18%</SPAN></SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]Lipid</SPAN></SPAN>
      [/TD]
      [TD]5%</SPAN></SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]Xơ</SPAN></SPAN>
      [/TD]
      [TD]8%</SPAN></SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]NaCl</SPAN></SPAN>
      [/TD]
      [TD]2.5%</SPAN></SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]Tro</SPAN></SPAN>
      [/TD]
      [TD]10%</SPAN></SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]Độ ẩm</SPAN></SPAN>
      [/TD]
      [TD]11%</SPAN></SPAN>
      [/TD]
      [/TR]
      </TBODY>[/TABLE]
      Năng lượng trao đổi (ME) tối thiểu (Kcal/kg) :1.600</SPAN></SPAN>
      Theo nhiều người nuôi cho rằng: hàm lượng xơ của thỏ phải trên 15% để thỏ không bị tiêu chảy. nhưng thực chất sử dụng loại thức ăn này vẫn không bị tiêu chảy. loại này hàm lượng đạm cao. Nếu sử dụng loại thức ăn viên con cò: 15cp, 20 cp… thì thỏ bị tiêu chảy là điều hiển nhiên</SPAN></SPAN>
      Mỗi ngày trung bình thỏ lớn tiêu thụ 80g thức ăn loại này. Nếu suy ngẫm lai giá của 1 bao như vậy giao động từ 240-260.000 đ/ 25kg. điều này hợp lý khi cho ăn theo qui mô công nghiệp. Với lại loại do HÀ LAN sản xuất giá cả biến động ít hơn so với các loại thức ăn khác.</SPAN></SPAN>

      [h=1]CHƯƠNG 4</SPAN></SPAN>[/h][h=1] CHUỒNG TRẠI</SPAN></SPAN>[/h][h=2]I. NHỮNG YẾU TỐ CHÚ Ý KHI XÂY DỰNG CHUỒNG TRẠI THỎ </SPAN></SPAN>[/h]Thỏ là loài gia súc tương đối chịu đựng được nhiều loại khí hậu khác nhau. Tuy nhiên thỏ khá nhạy cảm với môi trường sống. Chuồng trại ảnh hưởng đến sự thích nghi, năng suất và sức khoẻ của thỏ, do vậy khi xây dựng trại thỏ phải chú ý đến các đặc điểm sau: </SPAN></SPAN>

      [h=3]1. Khí hậu </SPAN>[/h][h=4]a. Nhiệt độ </SPAN></SPAN>[/h] Nhiệt độ tốt cho sự sống của thỏ trong khoảng từ 15-20[SUP]0</SPAN>[/SUP]C. Thông thường thì thỏ chịu lạnh tốt hơn là chịu nóng. Tránh những nơi quá chênh lệch giữa ngày và đêm, giữa tháng lạnh và tháng nóng. Nhiệt độ thấp quá hay cao quá sẽ làm thay đổi, dẫn đến xáo trộn sinh lý và biến dưỡng căn bản, từ đó sẽ có tác động xấu đến tăng trọng và sinh sản của thỏ cũng như là dễ nhiễm bệnh do sức đề kháng cơ thể thỏ bị kém. Ta có thể tạo ra một tiểu khí hậu trong chuồng thỏ tốt với điều kiện xây dựng chuồng trại thỏ với vật liệu và phương cách thích hợp. </SPAN></SPAN>

      [h=4]b. Gió </SPAN></SPAN>[/h] Thỏ dễ cảm ứng với những cơn gió lùa, làm thay đổi khí hậu trong chuồng, dễ dẫn đến thỏ bị cảm lạnh và chết. Vì thế lập trại thỏ nên lựa những nơi nào tránh được hướng gió có gió luồng trực tiếp vào trại ví dụ hướng Tây Nam, Bắc… Tuy nhiên trại rất cần thoáng khí, không khí trong trại cần thiết phải được trao đổi với bên ngoài. </SPAN></SPAN>

      [h=4]c. Ánh sáng </SPAN></SPAN>[/h] Ánh sáng nhiều quá sẽ không thích hợp cho thỏ, vì thế lập trại thỏ nên lựa nơi nào có bóng mát, như dưới những bóng cây to, đặc biệt là những nơi có có mùa hè quá nóng. </SPAN></SPAN>
      [h=4]d. Ẩm độ </SPAN></SPAN>[/h]Ẩm độ phù hợp cho thỏ có thể nằm trong khoảng từ 60-90%. Thỏ dễ bị cảm nhiễm với điều kiện ẩm ướt, hay có nước thường xuyên. Đặc biệt chú ý tránh những nơi quá ẩm ướt, đầm lầy, sương mù, nhất là những nơi có nhiều muỗi. </SPAN></SPAN>

      [h=3]2. Vị trí </SPAN>[/h] Cần thiết phải cất nơi cao ráo, dễ thoát nước, thuận tiện cho việc di chuyển tới lui, yên tĩnh, ít có người, gia súc qua lại và nên chọn những nơi đất tương đối thích hợp cho việc trồng các loại cây thức ăn. Nếu được nên chọn những nơi đất mới chưa nhiễm bệnh tật.</SPAN></SPAN>

      [h=2]II. NHÀ NUÔI THỎ </SPAN></SPAN>[/h] Nhà nuôi thỏ là nhà mà các lồng thỏ được đặt trong đó. Nhà có thể được cất bằng các loại vật liệu thuận lợi và rẽ tiền tại chỗ và ít dẫn nhiệt nhưng chú ý các yêu cầu sau: </SPAN></SPAN>
      - Phải có trần nhà cách nhiệt tốt để chống nóng vào mùa hè, vách nhà tránh được gió lùa vào mùa lạnh và mưa tạt vào. Cần phải có hệ thống cửa ra vào ở hai đầu nhà (Bắc - Nam) và hệ thống cửa sổ đảm bảo nhà thoáng, sáng sủa, khô ráo. </SPAN></SPAN>
      - Nền nhà phải có hệ thống rảnh thoát phân và nước tiểu hợp lý, dễ dàng dọn quét vệ sinh. Nền nên làm bằng xi măng, phẳng và có dốc thoát nước dễ dàng. </SPAN></SPAN>
      - Mái nhà nên làm bằng vật liệu không dẫn nhiệt có thể là lá hay ngói, nếu làm bằng tole hay tole xi măng thì phải có trần. </SPAN></SPAN>
      -Vách nhà có thể làm bằng tre, lá, gỗ hay gạch, nên tránh làm bằng tole hay thiết và sườn có thể là gỗ hoặc tre. </SPAN></SPAN>
      - Kích thước nhà nuôi thỏ phụ thuộc số thỏ được nuôi và kích thước lồng thỏ bố trí.</SPAN></SPAN>
      III. LỒNG THỎ </SPAN></SPAN>

      Có thể làm bằng tre, gỗ, sắt thép. Kích thước lồng thỏ phải phù hợp với tầm vóc của thỏ, thông thường ta có thể áp dụng những phương pháp để xác định kích thước của lồng thỏ theo 3 chiều dài, ngang, cao của mỗi ngăn lồng nhốt thỏ. </SPAN></SPAN>
      + Đo chiều ngang ngăn lồng: Đặt thỏ trên 1 bàn rộng và kéo dài 2 chân sau ra, và đo khoảng cách từ mủi thỏ đến cuối hai chân sau, đây là chiều rộng tối thiểu của ngăn lồng. </SPAN></SPAN>
      + Đo chiều dài của ngăn lồng: Cho thỏ di chuyển (nhảy), đo khoảng cách tối đa: giữa chân sau khi thỏ chưa nhảy và chân trước khi thỏ phóng tới. </SPAN></SPAN>
      + Đo chiều cao ngăn lồng: Chiều cao vừa phải, đủ để cho thỏ chồm lên ăn được trên cao, tuỳ thỏ lớn nhỏ mà có chiều cao ngăn lồng khác nhau, bình quân là 30cm.</SPAN></SPAN>
      [h=3]. Lồng thỏ nuôi thịt </SPAN>[/h] Kích thước lồng thỏ nên thay đổi theo số thỏ nuôi trong mỗi ngăn lồng. Thường người ta tính diện tích cho 10 thỏ thịt, có chiều ngang 0,7m, chiều dài 1,5m và chiều cao là 0,5 m. Khi đóng lồng thỏ thì cần thiết các lồng phải đồng nhất nhau về kích thước để tiện việc bố trí và sắp xếp trong nhà nuôi thỏ cũng như tạo ra vẽ mỹ quan. Số lồng nuôi thỏ được tính toán tùy theo sự phát triển số thỏ trong trại và dựa theo số thỏ hiện tại. </SPAN></SPAN>
      Ví dụ: 9 thỏ cái và 1 thỏ đực cần số lồng như sau: </SPAN></SPAN>
      - 9 lồng thỏ cái nuôi con </SPAN></SPAN>
      - 5 lồng thỏ nhốt riêng (3 cho thỏ cái có mang thai, 1 cho thỏ đực và một lồng thỏ cách ly (bệnh tật hoặc vệ sinh lồng…) </SPAN></SPAN>
      * đối với thỏ nhỏ con: cao 0,6m, ngang 0,7m, chiều dài có thể thay đổi. </SPAN></SPAN>
      * đối với thỏ nhốt từng con: 0,6 x 0,7 x 0,8m (dài) </SPAN></SPAN>
      * đối với thỏ cái nuôi con: 0,6 x 0,7 x 1,0m </SPAN></SPAN>
      * đối với thỏ thịt 10 con: 0,6 x 0,7 x 1,5 m</SPAN></SPAN>

      [h=3]4. Các kiểu lồng: </SPAN>[/h]Có thể dùng kiểu lồng: 1, 2 hay 3 tầng, nếu dùng lồng nhiều tầng thì tiết kiệm được diện tích. Tuy vậy bố trí sao cho sự thao tác làm việc của công nhân được thuận lợi, nếu dùng lồng nhiều tầng thì phải có vật che ở giữa, để tránh thỏ trên tiêu, tiểu xuống tầng dưới. </SPAN></SPAN>
      [TABLE]
      <TBODY>[TR]
      [TD]0,75 </SPAN>

      [/TD]
      [/TR]
      </TBODY>[/TABLE]
      [TABLE]
      <TBODY>[TR]
      [TD]0,5 m</SPAN>

      [/TD]
      [/TR]
      </TBODY>[/TABLE]
      [TABLE]
      <TBODY>[TR]
      [TD]0,25 m</SPAN>

      [/TD]
      [/TR]
      </TBODY>[/TABLE]
      [TABLE]
      <TBODY>[TR]
      [TD]0,5 m</SPAN>

      [/TD]
      [/TR]
      </TBODY>[/TABLE]
      [TABLE]
      <TBODY>[TR]
      [TD]Máng ăn</SPAN>

      [/TD]
      [/TR]
      </TBODY>[/TABLE]
      [TABLE]
      <TBODY>[TR]
      [TD]Máng uống</SPAN>

      [/TD]
      [/TR]
      </TBODY>[/TABLE]
      a. Kiểu lồng 1 tầng nuôi thỏ công nghiệp</SPAN></SPAN>











      b. Kiểu lồng có máng ăn ở giữa nuôi thỏ cỏ</SPAN></SPAN>
      [h=3]5. Vật liệu làm lồng </SPAN>[/h] Thường có thể là gỗ bào láng, tre và sơn để dùng được lâu và tiện cho vệ sinh chuồng, Có thể làm chuồng bằng sắt và sơn. Chung quanh lồng thường đóng lưới, kích thước các lỗ lưới cũng quan trọng đối với lưới làm nền lồng, kích thước mắt lưới có thể to hơn. Lỗ lưới này thường là 1,25 x 1,25 cm đối với thỏ nhỏ con, hoặc 1,25 x 2cm cho thỏ lớn con. Ngoài ra có thể làm vách lồng bằng những song sắt hay là gỗ. Tuy nhiên đối với song gỗ thỏ thường gặm mòn dần, vì thế sau một thời gian phải thay. </SPAN></SPAN>
      Đối với đáy lồng làm bằng tre thì khoảng cách giữa 2 thanh là 1,2cm là chuẩn nhất.</SPAN></SPAN>
      Vật liệu làm chuồng là rất quan trọng vì thỏ là con vật gặm nhấm nên gặm tất cả những cái gì có thể. tre và gỗ thì thỏ thường gặm nhất và khi đóng chuồng nên hạn chết sự lộ diện của 2 vật liệu này về phía thỏ. Vì khi vật liệu bị hư thì ta phải sửa chữa mà việc này làm mất thời gian. Vì vậy nếu có kinh phí nên chọn vật liệu bằng lưới và lưới đáy lồng phải là lưới tốt, còn lưới ở 2 bên vách và phía trên có thể là lưới thường để đỡ chi phí, với lại 2 bên vách và phía trên thì thỏ ít phá.</SPAN></SPAN>

      [h=3]6. Dụng cụ trong lồng </SPAN>[/h] Nói chung trong lồng thỏ có một số dụng cụ sau: máng cỏ, máng thức ăn bổ sung máng uống và ổ đẻ cho thỏ cái.</SPAN></SPAN>

      [h=4]a. Máng cỏ: (nếu nuôi bằng cỏ) </SPAN></SPAN>[/h] Để phân phối cỏ cho thỏ, máng cỏ phải cao để thỏ không thể dẫm lên cỏ để ăn, tránh nhiễm bệnh cầu trùng và nước tiểu, phân dính lên cỏ làm cho cỏ mau hư. Máng thường bố trí bên ngoài lồng để thỏ không lôi kéo cỏ rơi trong lồng. Bên trong phần đính vào lồng phải có song theo khoảng cách thích hợp (3-4cm), nếu dùng thanh sắt thì chỉ 2 cm để thỏ kéo cỏ ăn. Máng cỏ có thể làm bằng gỗ, tre, hay các thanh sắt. Chiều dài máng phụ thuộc kích thước của lồng và số thỏ nuôi. Kích thước từ vách lồng ra khoảng 20 cm, máng cỏ đặt cách lồng 10 cm và chiều cao có thể đạt từ 3-4 cm (tuỳ chiều cao lồng). </SPAN></SPAN>

      [h=4]b. Máng thức ăn hỗn hợp: </SPAN></SPAN>[/h] Đối với các loại thỏ lớn thì máng thức ăn phải lớn có thể dùng gáo dừa hoặc các vật dụng khác có thể tận dụng được. Tuy nhiên phải tránh trường hợp thỏ cái có nuôi con thì con thường nhảy vào máng và tiêu trong đó làm cho thức ăn bị hư vậy nên phải treo lên cao khoảng 2-3cm. Nếu dùng lon sữa bò để làm máng thì nên cắt bớt phân nữa vì thỏ lớn thường có đầu lớn hơn lon nên không thể lấy thức ăn ở đáy lon được. không nên dùng các vật dụng bằng mủ để làm máng ăn, thỏ sẽ cắn hết.</SPAN></SPAN>

      [h=4]c. Máng uống: </SPAN></SPAN>[/h] Nhu cầu nước đối với thỏ là khá cao. Nếu cho thỏ ăn toàn cỏ xanh có thể thoả mãn nhu cầu nước, nhưng cũng tùy theo từng loại cỏ. vd: rau lang, rau muống thì không cần cho uống nước vì trong rau có lượng nước khá lớn. Còn đối với bìm bìm, cỏ voi, cỏ tây thì cần cung cấp nước vì loại này chứa ít nước. Nếu nuôi bằng thức ăn viên, thì trong lồng thỏ bắt buộc phải có máng uống để cung cấp nước. Thỏ ăn thức ăn viên thì nhu cầu lượng nước là rất lớn. Khi ăn xong 1 hơi thì thỏ quay sang uống nước, sau vài phút là thức ăn nở ra là thỏ no vì thế thỏ ăn rất ít. Ngoài ra máng uống còn là phương tiện để cung cấp thuốc uống trị bệnh hay ngừa như là cầu trùng. Có nhiều kiểu máng uống thường ta tự chế máng uống bằng chai nước biển treo lên. Đôi khi dùng lon sữa bò cũng được, tuy nhiên đối với những vật dụng bằng kim loại khi tiếp xúc trực tiếp với nước một thời gian sẽ rỉ sét vì thế nếu dùng lon thì phải sơn bên trong 1 lớp sơn để tránh sét. Đối với thỏ lớn thì mỗi ngày 2 lần uống ( đầy lon). Còn đối với thỏ có thai thì cần thêm 1 lần cho uống nữa vì nhu cầu của thỏ có thai là rất lớn.</SPAN></SPAN>

      [h=4]d. Ổ đẻ: </SPAN></SPAN>[/h] Trước khi thỏ đẻ 3-4 ngày thì để ổ đẻ vào lồng cho thỏ cái đẻ. Ổ đẻ có hình dáng như cái hộp, có kích thước tuỳ theo tầm vóc thỏ. Đáy của ổ đẻ thỏ nên dễ thoát nước, tránh nước tiểu của thỏ làm cho thỏ con bị cảm lạnh. Có thể dùng loại rỗ bằng mũ ngoài chợ bán cho tiện nếu không thì tận dụng các vật dụng xung quanh nhà để làm ổ đẻ.</SPAN></SPAN>

      [h=2]II. NUÔI THỎ SINH SẢN </SPAN></SPAN>[/h][h=3]1. Nuôi Thỏ đực </SPAN>[/h] Nuôi thỏ sinh sản bao gồm thỏ đực giống và thỏ cái giống. Yêu cầu là thỏ đực phối được nhiều thỏ cái và đạt tỉ lệ thụ thai cao thường đạt tỉ lệ trung bình trên 70%. Tránh thỏ đực quá mập mở hay quá gầy. Tránh cho thỏ ăn quá nhiều làm cho thỏ đực lười, sản xuất tinh trùng kém. Thỏ đực ngoài cho ăn rau cỏ cần bổ sung thêm khoãng 50 g lúa, bắp hay đậu. Đối với thỏ đực có thể cho ăn lúa 3 ngày liên tục kết quả phối giống thụ thai sẽ rất tốt. Thức ăn cần giàu đạm và vitamin nhất là vitamin A và E vì chúng có vai trò quan trọng trên cơ sở phát triển tế bào và mô cơ. Thường 1 thỏ đực có thể phối cho từ 9-12 thỏ cái. Tuổi thỏ đực có thể sử dụng từ 8-10 tháng tuổi. </SPAN></SPAN>

      [h=3]2. Tuổi cho thỏ sinh sản </SPAN>[/h] Trong điều kiện ĐBSCL thì thỏ cái lai 3-4 tháng tuổi đã có khả năng giao phối. Tuy nhiên vào tuổi này thỏ cái thành thục chưa đầy đủ, cho nên cho thỏ sinh sản vào tuổi này sẽ có sữa ít, số con không sai, thỏ con dễ bệnh. Vì thế phải để thỏ sinh sản ở tuối 8 tháng đối với thỏ đực, và đối với thỏ cái là 6 tháng. Ở các trại giống thì thỏ cái sinh sản là 8 tháng và thỏ đực là 10 tháng. </SPAN></SPAN>
      Một thỏ đực có thể nhảy 8-12 thỏ cái (trung bình là 10 con). Căn cứ vào số lượng này ta tính lượng thỏ đực cần thiết phải nuôi. Thời gian sử dụng thỏ giống tùy thuộc vào: số con thỏ cái đẻ và tình trạng sức khoẻ thỏ cái. Nếu thỏ cái đẻ 5 lứa/năm thì có thể sử dụng trong vòng 3 năm nó tuỳ theo tình trạng sức khoẻ và khả năng sinh con, sau đó thì vỗ béo bán thịt. Còn đối với thỏ đực thì cũng có thể sử dụng trong 3 năm tùy tình trạng sức khoẻ và khả năng sai con của nó.</SPAN></SPAN>
      Đối với thỏ cho ăn thức ăn viên hỗn hợp thì thời gian cho phối giống tính theo trọng lượng cơ thể chứ không tính theo thời gian nuôi. Thông thường đối với thỏ cái trọng lượng cho phối giống khoảng 2,3-2,5kg. Đối với thỏ đực trọng lượng khoảng 2,5-2,8kg. nếu nuôi thương phẩm thì có thể cho phối giống ngay lần động dục đầu tiên khoảng 1,8- 2kg.</SPAN></SPAN>

      [h=3]3. Thỏ cái lên giống: </SPAN>[/h] Nhiều người cho rằng thỏ cái chỉ động dục vào ban đêm nên ta mới không biết được, thấy được. Điều này không đúng lắm. Thật ra, thỏ cái động dục bất kể giờ nào trong ngày, nhưng thường là vào buổi sáng và buôi tối.</SPAN>
      Buổi sáng hay lúc trời mới tối, ta nghe thấy trong chuồng thỏ cái có tiếng lục đục, chings là lúc nó đang động dục.</SPAN>
      Khó có thể xác định được thời kỳ lên giống của thỏ cái. Tuy nhiên có thể dựa vào một số triệu chứng và những triệu chứng này chỉ có tính chất tương đối. Bình thường khi thỏ nghỉ ngơi, thỏ nằm dồn thành một khối tròn, 2 chân trước duỗi ra, chân sau được xếp dưới bụng, và lưng làm thành hình vòng cung. Nhưng khi lên giống thì thỏ nằm duỗi ra trong lồng, mông chỏng lên hơi cao. Âm hộ có con hơi sưng to lên, màu niêm mạc của âm hộ cũng có màu hồng. Trong một số trường hợp có dịch nhờn chảy ra. Có những con chạy tới chạy lui, cắn máng. Điều này đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm mới có thể biết được thỏ cái lên giống. </SPAN></SPAN>
      Trường hợp thỏ cái không chịu cho thỏ đực nhảy thì có thể kích thích thỏ cái. Chúng ta có thể tiến hành như sau bỏ thỏ cái vào lồng thỏ đực trong vòng vài giờ sau đó bắt thỏ cái ra. Hoặc là bỏ một nắm cỏ của lồng thỏ đực cho vào trong lồng thỏ cái, cũng có thể nhốt thỏ cái kế lồng thỏ từ 24-48 giờ. Sau đó thỏ cái có thể chịu nhảy. Cũng có thể dùng các loại kích dục tố để kích thích thỏ cái lên giống và chịu cho đực phối trong những trường thỏ cái không có biểu hiện lên giống và không cho thỏ đực nhảy. </SPAN></SPAN>
      Nuôi theo thức ăn viên thì việc điều khiển thời gian lên giống của thỏ cái rất dễ. nếu thỏ cái bình thường hơi mập thì cắt phần thức ăn đáng kể chỉ đủ còn lại một lượng rất ít đủ để thỏ đủ sống. cắt phần thức ăn này trong thời gian 1-2 ngày rồi quan sát. Có thể âm hộ của thỏ cái không đỏ hồng (khác với thỏ cỏ). Nhưng ta có thể đem lại chuồng thỏ đực để phối, nếu 1 lần không được thì bắt ra thử lại vài lần tiếp theo. Đây cũng là cách kích thích để thỏ lên giống quá trình này chỉ lặp lại không quá 3 lần. nếu không lên thì cho ăn bình thường rồi lặp lại quá trình này vài ngày sau.</SPAN>
      Đối với thỏ ốm thì tiêm 1 liều thuốc trị ký sinh trùng 1cc, và cho thỏ ăn gấp rưỡi lượng thức ăn bình thường thì như vậy sau 3-6 ngày thì thỏ lên giống. cũng đem qua chuồng thỏ đực để phối quá trình này giống như xử lý khi thỏ mập.</SPAN>
      Nguyên nhân thỏ mập không lên giống là do lớp mở ở tử cung bao lấy buồn trứng nên trứng không rụng được nên quá trình lên giống không xảy ra. Còn đối với thỏ ốm nguyên nhân là không đủ sức khỏe do thỏ bị ký sinh trùng hay thức ăn thiếu chất dinh dưỡng khiến thỏ không đủ sức khỏe.</SPAN>

      [h=3]4. Cho thỏ phối giống </SPAN>[/h] Thường cho thỏ cái phối giống vào sáng sớm hay chiều mát, không nên cho thỏ phối vào lúc nắng nóng vì điều kiện nóng sẽ không thuận lợi do stress nhiệt. </SPAN></SPAN>
      Bắt thỏ cái bỏ nhẹ nhàng vào trong lồng thỏ đực, không nên bắt thỏ đực bỏ vào trong lồng thỏ cái do có thể làm cho thỏ đực hoảng sợ với môi trường mới không chịu phối, cũng như thỏ đực phải nhiều lần bị bắt chuyển qua lồng khác. Phải quan sát coi thỏ nhảy. Khi nhảy được thỏ cái, thỏ đực sẽ kêu lên một tiếng và ngã sang bên cạnh là đạt. Thỏ đực chỉ có thể nhảy từ 1-2 lần. Không nên để thỏ cái trong lồng thỏ đực suốt đêm làm mất sức cả thỏ đực và cái. Trong một vài trại cho thỏ đực nhảy liên tiếp 2 lần trước khi bắt thỏ cái ra, chỉ áp dụng cách này khi thỏ đực ít nhảy. Cách dùng 2 thỏ đực khác nhau để nhảy 1 thỏ cái có hạn chế là: Không xác định được di truyền của con đực nào và thỏ cái yếu sức sẽ không chịu đực. Thỏ đực tốt có thể cho nhảy 2 lần 1 ngày. Đó là lý thuyết thực tế thỏ đực có thể phối 4 lần 1 tuần, lượng tinh trùng vẫn không giảm. Số lượng thỏ con sinh ra vẫn nhiều bình thường.</SPAN>

      [h=3]5. Chăm sóc thỏ cái có thai</SPAN>[/h] Thời gian mang thai của thỏ cái là 30 ngày, có thể sớm hoặc trể hơn 1-2 ngày. Sau khi cho thỏ nhảy nếu khoãng 6-7 ngày sau mà thỏ cắn lông để làm ổ thì có thể kết luận là thỏ không có thai (đây là hiện tượng chữa giã ít thường gặp). Thỏ có thai thì nên đặt thỏ ở một nơi yên tĩnh, kín đáo và sau 15 ngày thì khám thai. Sau đó thì cho thỏ vào lồng rộng hơn, có nước uống thường xuyên, có cỏ đầy đủ và thêm thức ăn bổ sung, bột cá, bánh dầu. Khoảng 20 ngày đầu thỏ con phát triển rất chậm nhưng khoảng 1 tuần gần cuối giai đoạn mang thai thì phát triễn rất nhanh. Biết được điều này thì ở giai đoạn cuối nên cho thỏ ăn lượng thức ăn nhiều hơn bình thường để thỏ con phát triễn đều đặn và mau lớn.</SPAN></SPAN>

      [h=3]6. Kiểm soát thỏ cái có thai </SPAN>[/h] Kiểm soát tốt nhất là ngày thứ 15, nên khám coi thỏ có thai hay không? Không nên khám thai sau ngày thứ 18 </SPAN></SPAN>
      Cách khám</SPAN>: </SPAN>
      - Sờ bằng tay: bắt thỏ cái đặt nhẹ nhàng lên trên mặt nhám, tay phải nắm lổ tai và vai thỏ, tay trái đặt dưới mình thỏ giữa 2 chân sau và trước vùng xương chậu, đặt ngón cái 1 bên và 4 ngón còn lại một bên, lướt nhẹ nhàng từ trước ra sau, nếu gặp 1 cục tròn nhỏ như sâu chuỗi là thỏ có thai. Nên phân biệt với phân thỏ nằm gần xương sống và trực tràng. </SPAN></SPAN>

      [h=3]7. Cho thỏ đẻ </SPAN>[/h] Căn cứ vào ngày phối ghi chép mà chuẩn bị ngày thỏ đẻ. Thông thường thời gian mang thai của thỏ là 1 tháng, tuy nhiên thỏ có thể đẻ sớm hay trễ hơn 1-2 ngày là chuyện bình thường. Ta cần thiết phải chuẩn bị ổ đẻ cho thỏ. Ổ thỏ đẻ có thể được đóng bằng gỗ (như trình bày ở phần chuồng trại). Cũng có thể dùng các rổ bằng tre hay nhựa. cho vào một ít vải vụn. Trước khi đẻ, thỏ mẹ sẽ cắn lông ở bụng và lót vào ổ. Thỏ đẻ nhanh và tự ra nhau thai. Thỏ mẹ tự ăn nhau.</SPAN></SPAN>
      Cho thỏ sơ sinh bú là điều quan trọng, nếu thực hiện cẩn thận và kết quả thỏ con bú đầy đủ sẽ nâng cao số con còn sống sau cai sữa. Sự thất bại thường xảy ra giai đoạn này. Chú ý là thỏ con cần được sự giúp đỡ để bú mẹ, đặc biệt là thỏ mẹ ở lứa hậu bị. Phải theo dõi và cho bú đầy đủ, mỗi ngày chúng ta có thể cho bú chỉ 1 lần vào buổi sáng. Thỏ con sơ sinh có thể tách ra khỏi mẹ để vào ổ lót bằng nhựa nơi khô ráo, ấm áp và tránh bị thỏ mẹ vào ổ đẻ bới con văng ra hay đè chết. Thỏ con bú đầy đủ sẽ ngũ yên và da căng bóng, trường hợp thiếu sữa thỏ sẽ cựa quậy nhiều và da nhăn, gầy còm. Thỏ mở mắt từ 9-13 ngày, ta có thể tập ăn tại lồng của thỏ con bằng rau xanh tốt và các loại thức ăn bổ sung có chất lượng mà không cần cho theo mẹ. Như vậy chúng ta tạo điều kiện để cai sữa tốt và thỏ mà ít bị ảnh hưởng bởi thỏ con. Thông thường chúng ta cai sữa chúng từ 30-35 ngày tuổi.</SPAN></SPAN>

      8. Sang con nhờ nuôi vú:</SPAN>
      Khả năng của một thỏ mẹ nuôi chừng 6 thỏ con là vừa. với 6 con đó, nó đủ sữa để nuôi cho mập mạp. tất nhiên, để cho nó nuôi ít quá thì phí, mà nuôi nhiều quá thì không đủ sức. vì vậy ta mới làm cái việc cần làm là sang con nhờ nuôi vú.</SPAN>
      Sang con là lấy bớt số con ở ổ nhiều quá sang ổ ít quá để nhờ nuôi hộ cho đến lớn khôn, gọi là nuôi vú. Chẳng hạn ta có một ổ sinh đến 10 con, một ổ khác sinh có 4 con, như vậy ta bắt 3 con trong ổ 10 con để bớt sang ổ 4 con, thành ra mỗi thỏ mẹ đều chỉ nuôi 7 con. Thỏ cái thường có đến 8 vú nên nuôi 7 con cũng vừa.</SPAN>
      Cách sang con không phải ổ nào sang với ổ nào cũng được mà nên lựa hay bầy cùng cỡ tuổi với nhau mới tốt. ví dụ: hai ổ đẻ cùng ngày, hoặc đẻ cách nhau trước sau độ vài ngày mà thôi. Tuổi tách hai bầy con chệnh lệch quá thỏ mẹ sẽ phát giác ran gay.</SPAN>
      Khi làm việc sang con, ta nên cẩn thận rửa sạch tay để không lưu lại mùi mồ hôi và nên sang ban đêm để thỏ mẹ không phát giác được số con lạ bầy trong ổ của nó. Trường hợp phát giác ra, nó có thể cắn chết thỏ con khác bầy.</SPAN>
      Vậy khi gởi thỏ con nuôi vú, ta nên để tâm theo dõi trong vài giờ, để nếu xảy ra sự cố thì can thiệp ngay. Cách can thiệp là trả hết thỏ mới về ổ cũ của nó như trước. cách hay nhất là bắt thỏ con ra của 2 ổ để ra ngoài khoảng 1 buổi rôi sau đó mang vào thì hoàn toàn thỏ mẹ không nhận ra.</SPAN>
      Thỏ con vài ba tuần tuổi vẫn có tể gởi nuôi vú được miễn là sang ban đêm và con hai bầy cùng có sắc lông như nhau.</SPAN>

      9. Nuôi thỏ con vừa lẻ mẹ</SPAN>
      Thỏ mẹ sau khi đẻ con thường nuôi con đến 6 tuần, tức là tháng rưỡi mới lẻ bầy. trong thời gian nuôi con, dù được bồi dưỡng tối đa, thỏ mẹ cũng chưa hồi phục sức được. do đó, nếu cho thỏ mẹ chịu giống sớm, e rằng nó sẽ yếu sức trong lần sinh con tiếp theo.</SPAN>
      Ta nên cho thỏ mẹ nghỉ từ một tháng đến tháng rưỡi, tính từ ngày sinh con, mới cho chịu giống trỏ lại, đó là khoảng thời gian nghỉ ngơi hợp lý nhất. Như vậy một năm ta thu lợi được 4-6 lứa con, thay vì 12 lứa như cách nuôi cũ. </SPAN>

      10. Ngăn ngừa kẻ thù cho thỏ.</SPAN>
      Thỏ có rất nhiều kẻ thù, nhỏ có lớn có, mà nó thì không có một chút khả năng nhỏ nào để tự vệ:</SPAN>

      Chuột:</SPAN>
      Có thể nói rằng nơi nào nuôi thỏ là nơi ấy có rất nhiều chuột. Lẽ dễ hiểu là ở đây có nguồn thức ăn vô tận và béo bở. Chuột kéo đến để tranh ăn lúa gạo, cám, bắp, thức ăn viên…mà chủ nuôi bòi bổ cho thỏ hàng ngày.</SPAN>
      Do những thức ăn này thường cho thỏ ăn vào bữa tối nên cứ tối đến là cả nhà chuột, cả xóm chuột đều rần rần kéo đến bu nghẹt các cóng đựng thức ăn của thỏ. Chuột là giống ăn thịt sống nên gặp thỏ con nằm trong ổ chúng cũng không tha. Đối với thỏ, chuột cong truyền bệnh bọ chét, hút máu làm ốm thỏ.</SPAN>
      Như vậy tai hại do chuột gây ra cho nghề nuôi thỏ không phải là ít. Vì vậy việc bài trừ chuột là công việc hàng đầu của người nuôi thỏ. chắc chắn mỗi người đều có một biện pháp riêng. Cách đặt bẫy bên trong và chung quanh khu vực nuôi thỏ chắc chắn không mấy hữu hiệu, vì giống chuột rất khôn. Có người đánh bả nhưng không thể trừ tuyệt được. Theo cách hay nhất là vây lưới kẽm mắt nhỏ kín mít chung quanh khu vực nuôi thỏ thì mới hạn chế được sự tác hại của chuột. Ngoài ra nuôi con Bbọ (chuột lang) cũng là một giải pháp hay.</SPAN>
      Ngăn ngừa chuột còn có cách đóng chuồng bằng loại lưới kẽm mắt nhỏ. Nếu chuồng đóng bằng tre hay gỗ, thì các thanh tre, gỗ cũng nên đóng khít nhau với khoảng cách chừng một phân thì chuột lắt hết đường chui vào được.</SPAN>
      Ngăn ngừa được nạn chuột, việc nuôi thỏ mới tăng được nhiều lợi nhuận.</SPAN>
      Đó là cách nuôi thò bằng chuồng. Trong trường hợp nuôi thả thì khó lòng trừ được nạn chuột. Có điều nuôi thả thì ít khi cho ăn thức ăn tinh nên chuột cũng ít kéo đến.</SPAN>

      Mèo </SPAN>
      Cũng như chuột, nơi nào nuôi thỏ là nơi ấy có nhiều mèo. Đây là mèo trong xóm quy tụ lại. Những nơi nuôi thỏ đại trà thì lực lượng mèo kéo đến cũng khá đông, mỗi con...hùng cứ một góc nào đó để…rình chuột. Mèo có mặt ở đây là để bắt chuột, nhưng nếu chỉ có vậy thì chúng là ân nhân của người nuôi thỏ. Mèo cũng thích vồ thỏ con nếu co dịp thuận tiện như nắp chuồng mở quên đóng chẳng hạn. Cái hại của mèo gây ra là nó thích tàn sát cả bầy thỏ con, để rồi chỉ chén một hai con thôi! Con thỏ mẹ không có một phản ứng nào trước kẻ thù hung hãn này.</SPAN>
      Chưa ai có cách trừ mèo hiệu quả cả chỉ có cách là gặp thì đuỗi, nhưng đây là giống lì lợm đâu biết sợ hãi là gì: có nạt nộ, có ném đá chúng cũng lánh mặt đâu đó một chút rồi lại quanh khu vực nuôi thỏ.</SPAN>

      Chó</SPAN>
      Chó xâm nhập chuồng thỏ không có mục đích nào khác là…theo chân chủ theo thói quen của chúng. Hể có con thỏ nào sổng chuồng chạy tung tăng duới đất mà chó thấy được thì coi như…mất mạng. Đó là do chó thích vồ thỏ theo bản năng ưa săn bắt của nó thế thôi. Vì vậy, ta nên cấm chó lẩn quẩn vào khu vực nuôi thỏ.</SPAN>
      Trong khu vực nuôi thả chó không làm gì được thỏ, vì hể gặp chó là thỏ đã vợi trốn vào hang sâu. Tuy biết vậy, ta cũng nên ngăn ngừa chó xuất hiện tại đây. Nhiều người tỏ ra cẩn thận, trong khu vực nuôi tho thả, ngoài việc vét mương rộng, họ còn cẩn thận rào kẽm gai chung quanh khu đất để ngăn ngừa cho và trâu bò…</SPAN>

      Rắn</SPAN>
      Ở đâu có bụi bờ là ở đó có rắn. Rắn thích ăn thò và một khi đã ăn quen thì chúng đến luôn. Rắn nhỏ thì tìm thỏ con , rắn lớn thì tim thỏ lớn. Thân rắn dù nhỏ nhưng vẫn nuốt trọng được thỏ lớn vì cổ nó có nhiều cơ đàn hồi.</SPAN>
      nuôi thỏ ở vùng nông thôn ai cũng phải nghĩ đến việc trừ rắn. có người trồng sả chung quanh khu vực nuôi thỏ, vì tin rằng rắn rất kỵ mùi sả (?). Cách tốt nhất là nên vây lưới kẽm mắt nhỏ chừng một phân chung quanh khu vực nuôi.</SPAN>
      Ngoài ra không có cách nào trừ diệt được rắn, ngoài việc thấy chúng xuất hiện con nào là ví đập chết con đó mà thôi. </SPAN>
      Rắn là kẻ thù số một của thỏ nuôi thả. Nuôi thỏ thả, vì vậy mức hao hụt đáng kể không phải mèo, chuột mà là rắn. </SPAN>
      Tóm lại, kẻ thù của thỏ không nhiều nhưng rất nguy hiểm. cách ngăn ngừa được coi là hữu hiệu nhất là nên vây kín lưới kẽm mắt nhỏ chung quanh nhà hay trại nuôi thỏ, như vậy mới bảo vệ được bầy thỏ nuôi bên trong, đồng thời cũng khỏi tốn hao thức ăn tinh của thỏ vào bụng chuột. Vẫn biết vây lưới rất tốn kém, nhưng nếu so với cái hại đang gánh chịu thì sự tốn kia không đáng là bao.</SPAN></SPAN>
       
      1 person likes this.
    3. giangmt

      giangmt Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      10
      Đã được thích:
      1
      Nghề nghiệp:
      Sales
      Khi nuôi cá, các bác cũng cần chú ý nâng cao sức khoẻ cho thuỷ sản nuôi trong ao/hồ.
      Để nâng cao sức khoẻ, tăng mật độ cá trong ao, tăng năng xuất, các bác nên dùng AquaClean Aqua-C.

      AquaClean Aqua-C: Công thức đặc biệt cho môi trường nuôi trồng thủy sản:
      - Phân hủy xác tảo chết.
      - Tăng hàm lượng oxy hòa tan.
      - Phân hủy lớp bùn hữu cơ.
      - Tăng cường và bảo dưỡng hệ thống lọc sinh học.
      - Bao gồm các vi sinh quang dưỡng, vi sinh này làm giảm độ đục của nước bằng cách lọc và lắng các thành phần ô nhiễm hữu cơ và vô cơ.
      - Có tác dụng trong điều kiện pH giao động mạnh.
      - Có khả năng hoạt động trong điều kiện nhiệt độ trên dưới 40°C.
      [​IMG]
      Công dụng:
      1. Sử dụng trong hồ nuôi, bể cả, ao tù, và ao nuôi.
      2. Tạo môi trường trong lành cho ao nuôi, kích thích tăng trưởng, khi đó mật độ vật nuôi trong ao sẽ tăng lên ---> tăng năng xuất.
      3. Giảm lượng ammonia, nitơ và nitrat.
      4. Giảm mùi độc hại gây ra bởi rong tảo, chất bài tiết từ cá và thức ăn thừa.
      5. Giảm chất khí độc hại thường gây nặng mùi khó chịu: H2S.
      6. Giảm BOD và các chất ô nhiễm hữu cơ gây hại cho sinh trưởng của cá.
      7. Giảm lớp bùn đáy hình thành do chất bài tiết từ cá, thức ăn thừa và xác thực vật ---> Giảm lượng cường độ nạo vét bùn đáy.

      Xem chi tiết trong file PDF: http://goo.gl/X9gSD

      --
      Công ty TNHH Đất Hợp
      144 Chu Văn An, P.26, Q. Bình Thạnh, Tp. HCM
      ĐT: 08. 3511 6747 * Web: www.tuvanmoitruong.vn
      DĐ: 0914 368 779 (gặp anh Giang)
       
      Last edited: 9/7/12
      1 person likes this.
    4. Chú_cá_agri_Viet

      Chú_cá_agri_Viet Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      4
      Đã được thích:
      13
      Nghề nghiệp:
      nông dân
      Chào bạn, theo mình nghĩ nếu bạn muốn nuôi cho thành công ngoài việc học trên sách vở và thu thập tài liệu, bạn nên đi học lấy kinh nghiệm ở 1 số trại trước, có thể đi học và làm không công để lấy kinh nghiệm. Nếu như bạn có ý nuôi cá chẽm hay nuôi tôm như bạn nói bạn có thể lên trường Đại học nông lâm liên hệ gặp Thầy Đinh Thế Nhân,Thầy rất nhiệt tình và vui vẻ, còn việc bạn học được đến đâu là tùy vào khả năng của bạn. Chúc bạn thành công!
       
      1 person likes this.
    5. Quách Huy

      Quách Huy Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      7
      Đã được thích:
      7
      Nghề nghiệp:
      Công Nhân
      Bạn có thể cho mình địa chỉ email của thầy được không, chứ ĐHNL nó rộng như vậy biết đường nào mà kiếm thầy hả bạn. Thanks!
       
      1 person likes this.
    6. duc34tc

      duc34tc Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      104
      Đã được thích:
      23
      Nghề nghiệp:
      sinh vien
      chào bạn !
      thực ra nhiều lúc mình nghĩ dù mình có bao nhiêu vốn trong tay không trọng , nó chỉ quyết định 40% thôi .
      quan trọng là con vật bạn định nuôi có mang lại hiệu quả ko ?
      lòng đam mê và cả kinh nghiêm và hiểu biết về con vật đó nữa
      mình cũng giống bạn thôi .đang định bỏ nghề dạy học để làm nông ngjhieepj đây
      mặc dù trong tay vốn liếng chẳng có là bao .hihi
       
      1 person likes this.
    7. Quách Huy

      Quách Huy Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      7
      Đã được thích:
      7
      Nghề nghiệp:
      Công Nhân
      Cùng chí hướng

      Hi, cũng có nhiều người thích làm nông dân giống mình quá nè. Bạn nói đúng, nếu quyết định làm nông nghiệp thì phải lựa chọn giống nào mang lại hiệu quả kinh tế cao, mà đơn giản hơn có dễ nuôi không đã, nếu giống mang lại hiệu quả cao mà lại khó nuôi thì bạn phải đối đầu với mạo hiểm lớn. Mình có ý định này cũng lâu rồi nhưng giờ mình vẫn vừa đi làm để tạo nguồn vốn trước và cũng vừa học hỏi kinh nghiệm từ ace trên mọi diễn đàn đó bạn. Mình chúc bạn gặt hái được thành công.
       
      1 person likes this.
    8. timwilliam2007

      timwilliam2007 Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      41
      Đã được thích:
      17
      Nghề nghiệp:
      Nông dân
      Mình nghĩ bạn đăng ký hết một số diễn đàn nông nghiệp rồi dạo quanh một vòng trong đó bạn sẽ thấy cái mình cần làm và cần học hỏi. Không ai có thể cho bạn sự trả lời chính xác được. Chỉ có bạn mới tìm ra câu trả lời. Với số vốn ấy và số đất ấy có thể làm khối việc. Nếu bạn không có một đồng nào trong tay hoặc chỉ có vài trăm ngàn bạn sẽ làm gì. Làm sao đầu tư vào con gì đó giảm thiểu chi phí sản xuất lợi nhuận kinh tế cao thì làm. Bạn nên thiết kế một mô hình khép kín nào đó để nuôi sẽ đảm bảo lợi cả đôi đường.
       
      1 person likes this.
    9. TRANHUUHAU

      TRANHUUHAU Nhà nông chính hiệu

      Bài viết:
      1.724
      Đã được thích:
      110
      Nghề nghiệp:
      Chăn Nuôi
      • Ý kiến bạn cũng hay nhưng hơi kỉ quá thì đâu nuôi được con vật gì ...
       

    Chia sẻ trang này

    Đang tải...
    Đang tải...