• Những Nông cụ một thời đã qua!

    Thảo luận trong 'Điểm báo - Chuyện đó đây' , 8/10/13

    1. Nông dân hậu giang Nhà nông chính hiệu

      Mỗi một nông cụ luôn gắn liền với một giai đoạn lịch sử của ngành nông nghiệp, mang đậm bản chất văn hóa dân gian của từng vùng miền nước ta. Một Nền văn minh lúa nước đã trải qua nghìn năm đang dần rơi vào lãng quên, có chăng những người biết đến là những nhà nghiên cứu, những nhà khảo cổ học của các viện bảo tàng nằm khắp các tỉnh thành phố. Môn lịch sử trong giáo dục đã mãi mê với các cuộc chiến tranh mà quên những thứ còn lại cũng là một phần của lịch sử!
      Qua topic này bác nào còn lưu giử những nông cụ từ thời tre, gỗ,.... mong các bác chia sẽ với bà con.
      Nọc cấy

      [​IMG][/IMG]

      Trong tiến trình cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp, các loại nông cụ cầm tay đang dần biến mất khỏi đời sống nông thôn. Một trong những nông cụ đó là nọc cấy.
      Nọccấy là nông cụ phổ biến trong nghề nông tại đồng bằng sông Cửu Long. Đối với người nông dân, nọc cấy là công cụ dùng để cấy lúa xuống ruộng sau khi ruộng đã được dọn sạch: phát cỏ và chếgốc.
      Nọc cấy được hình thành vào khoảng năm 1946 và được sử dụng phổ biến từ đó cho đến năm 1990. Khi người nông dân chuyển qua làm lúa thần nông, nọc cấy không còn được sử dụng phổ biến.
      Có 2loại nọc cấy là nọc cấy lúa mùa và nọc cấy lúa thần nông (nọc lục giác và nọctròn). Muốn có được một cây nọc cấy vừa ý, người thợ mộc chọn cho mình một thanh gỗ chắc chắn như căm xe, thao lao, nếu cấy phảng thể hiện "đẳng cấp đàn ông", thì chiếc nọc cấy tượng trưng cho hình ảnh người phụ nữ Nam bộ hiền lành, chịu thương chịu khó. Vì vậy khi làm, những người thợ mộc chế tạo ra nhiều chiếc nọc cấy vừa nhỏ, gọn xinh xắn với phần đầu nọc cấy dài khoảng 45 -50cm, đường kính 6cm, đến phần bụng có hình tròn và phình to như đoạn đầu củacây nọc khoảng 5 - 6cm, ở giữa nọc có eo nhỏ dùng để tra thanh ngang dài khoảng17cm làm tay cầm, như thế khi cấy không đâm xuống đất quá sâu. Đồng thời, tay cầm nọc cấy vẫn còn khoảng trống để chen bó mạ vào cùng với chiếc nọc để vừa chọc lỗ đất, vừa đưa từng tép mạ cho tay kia cấm mạ xuống đất. Đối với những vùng có nhiều đĩa, người nông dân làm nọc cấy có thêm cái lỗ để bỏ vôi, khi cấy lỡ bị đỉa cắn thì lấy vôi ra xoa. Bắt đầu từ thân nọc, độ phình to sẽ giảm dần cho đến đầu dưới cùng và được đẽo thành mũi nhọn, để thuận tiện cho việc đâm xuống đất.
      Ngoài ra, cũng tuỳ theo từng vùng đất, người nông dân sẽ đặt thợ mộc làm nhiều loại nọc cấy lớn nhỏ, dài ngắn khác nhau cho phù hợp với độ cứng, mềm của đất. Ởnhững nơi đất lầy lội thì không sử dụng nọc cấy, mà chỉ dùng tay ấn mạ xuốngđất, gọi là cấy tay.
      Đặc biệt, ở huyện Vũng Liêm và huyện Tam Bình, còn có một loại công cụ được gọi là phảng cấy, loại phảng cấy này chỉ xuất hiện từ khoảng năm 1930 đến năm 1945, donhững người thợ rèn tận dụng phảng phát cỏ chế biến lại. Phảng cấy bằng sắt,dài 0,5m, có cán cũng bằng sắt hoặc bằng gỗ dài 0,1m, giữa cán và thân tạo thành một góc 90[SUP]0[/SUP], đầu phảng rộng từ 0,05 đến 0,07m. Cấy phảng sử dụng như cấy nọc. Một tay cầm phảng, cầm mạ. Khi đâm phảng xuống đẩy nghiêng một bên tạo lỗ. Tay kia xé lấy tép mạ rồi ấnxuống, rút phảng lên. Cấy phảng thường dùng để cấy lúa cây.
      Ngày nay,trong tiến trình cơ giới hóa nông nghiệp, nông dân tiếp cận ngày càng nhiều với các loại máy móc hiện đại, như máy xạ hàng, máy gặt đập liên hợp, máy cày, máy xới, máy tuốt lúa…Đối với thế hệ trẻ, họ càng trở nên xa lạ với những nông cụ truyền thống và không hình dung được những khó khăn, khổ cực của người nông dân phải “một nắng hai sương” để tạo nên giá trị thiêng liêng của hạt lúa, hạt gạo.Và hình ảnh những cô thôn nữ xinh xắn thoăn thoắt cấy lúa trên thửa ruộng dệtnên những luống mạ xanh rì nay chỉ con trong thơ ca nhạc họa. Họ chỉ còn tìmthấy những công cụ này ở tại các bảo tàng, các cuộc triển lãm qua các dịp lễ tết…như một phần tôn vinh những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần đối với người nông dân, cũng như khẳng định tính truyền thống, bền vững trước quá trình phát triển của tỉnh Vĩnh Long nói riêng và vùngđ ồng bằng châu thổ Sông Cửu Long nói chung.Theo "Tìm hiểu Văn hóa Vĩnh Long"

      Cái cày

      Cái cày là biểu hiện của nền văn minh lúa nước. Cái cày xuất hiện đánh dấu một bước ngoặt của nghề trồng trọt, giải phóng phần nào sức lực con người, năng suất cây trồng lên cao. Cày xuất hiện cũng là thời điểm con người dùng sức kéo của con vật trong việc sản xuất nông nghiệp, đó là dùng con trâu, con bò. Ở các nước Tây phương sức kéo thường là con ngựa. Sức lực của người nông dân trong việc cày ruộng đổ ra rất nhiều so với việc dùng cuốc, dùng mai nên con người phải dùng con trâu con bò phụ giúp,
      Cái cày của người nông dân ngày xưa ở trong tỉnh sử dụng còn đơn sơ lắm, hầu hết đều làm bằng gỗ, chỉ có cái lưỡi cày là làm bằng sắt. Cái cày là một công cụ dùng để xới đất, lật lớp đất lên trước khi trồng trọt. Cái cày được kéo bằng trâu hay bò, kéo với 1 con hay 2 con.
      Cái cày có hình dáng khác nhau cho phù hợp với thổ nhưỡng từng địa phương. Do đó, cái cày miền Bắc khác với cái cày miền Trung, miền Nam. Vùng đồng bằng Bắc bộ có cày chìa vôi, còn cái cày ở miền Trung như nông dân ngày xưa dùng trong tỉnh Khánh Hòa có hai loại : cày nángcày đỏi khác với cái cày miền Bắc.
      a) Cày náng, còn gọi là cày nống, cày ống. Cày này chỉ cày đất khô trên đất thổ, không dùng cày ruộng nước. Cày náng hiện nay tại Khánh Hoà không ai dùng nữa nên mất hẳn dấu tích.
      Cày náng gồm có : chuôi cày, mỏ cày, trạnh cày và náng cày.
      - Chuôi cày (miền Bắc gọi là tay cày) là để người cày cầm nắm điều khiển cả cái cày khi được trâu hay bò kéo, phần dưới là mỏ cày. Trong khi đó, ở các nơi khác ngoài tỉnh, chuôi càymỏ cày (để móc lưỡi càytrạnh cày) được gắn ghép lại từ các đoạn khác nhau. Chuôi cày náng được chọn từ một cành cây lớn thuộc loại danh mộc, như ké, muồng, căm xe… có hình dáng hơi giống chữ Z, nhưng không gấp khúc mà hơi cong. Sau đó, người ta đẽo nhỏ lại, phần trên là chuôi cày, nối liền với phần dưới là mỏ cày.
      - Mỏ cày (miền Bắc gọi là mõm cày) có độ thẳng nằm liền với mặt đất. Phần đầu của mỏ cày đẽo nhọn giống hình cái bắp chuối chẻ hai, gắn vào một lưỡi cày được đúc bằng gang, mặt trước có hình lòng chảo, cạn dần về phía mũi, mặt sau được cấu tạo mộng để tra phần mỏ cày vào. Trên thân lưỡi cày có khoan mấy lỗ để bắt vít cố định vào mỏ cày. Lưỡi cày có nhiệm vụ lật lớp đất khỏi nền. Có lưỡi cày hình thang và hình mũi đục
      - Trạnh cày (miền Bắc gọi là diệp cày) trên lưng mỏ cày, cũng đẽo bằng gỗ, hình thang, có tạo cái chốt gắn chặt vào mỏ cày và có thể tháo mở ra thay thế được. Trạnh cày có nhiệm vụ khi cày gạt nhát đất về một phía của luống cày.
      - Náng cày (miền Bắc gọi là láng cày) giữ cho mỏ cày và bắp cày ở trong cái thế vững chắc. Náng cày là một đoạn cây to bằng bắp tay, dài hơn 2,5m, rất thẳng, thuộc loại danh mộc để có độ bền lâu, được gắn vào phía dưới chuôi cày cách khoảng 0,3m, thẳng đường song song với mỏ cày về phía trước. Ngay chỗ trạnh cày có một cây nọc thẳng đứng xuyên qua náng cày bằng một cái lỗ, bên trên có đóng chốt để náng càymỏ cày vững chắc liền nhau. Chính cái trạnh cày được giữ vững trên sóng lưng mỏ cày là nhờ kết tựa thêm vào cây nọc này.
      Cuối đầu trước của náng cày, phía dưới có tra một cái móc nài để cột vào sợi dây nài nối liền cái quải (cái ách) cho trâu hay bò kéo đi.
      Cày đất thổ trồng hoa màu phụ, ngoài cày náng ra, còn có cày nống hay cày ống. Hình dáng cày này cũng giống cày náng, chỉ khác náng cày không gắn cố định vào mỏ cày, mà có thể đưa cây náng lên cao hay xuống thấp hơn tùy theo thế đất.
      b) Cày đỏi dùng để cày trên ruộng nước, không thể dùng cày náng được
      Cày đỏi gồm có :
      - Mỏ cày : Mỏ cày đỏi có hình dáng giống mỏ cày náng, chỉ khác là phần dưới chuôi càyđược đẻo phình to hơn. Cày đỏi không có cây náng dài để gắn luôn vào cái quải mà chỉ có cái bắp cày nhỏ hơn bắp chân, hình dẹp, gắn rất chặt vào cái lỗ hình khối chữ nhật ngay chỗ phần chuôi cày được đẽo phình to như nói ở trên.
      Để bắp cày có thể lấy ra hay sửa chữa, ngay lỗ tra bắp cày đóng vào một cái mộng (cái chốt) bằng gỗ. Mộng này vừa giữ chặt bắp cày, vừa lấy bắp cày ra dễ dàng bằng cách tháo mộng ra.
      - Lưỡi cày đúc bằng gang, được gắn vào mỏ cày.
      - Trước năm 1960 trạnh cày được đẽo bằng gỗ, thường bị mục, hư hỏng sau 5 - 6 mùa cày. Những năm trở về sau, trạnh cày được cải tiến, chế tạo bằng gang và sau đó các bộ phận cái cày cũng được chế tạo bằng sắt cho đến ngày nay. Những chiếc cày gỗ ngày xưa đã không còn dấu tích.
      - Cây đỏi : Khi bắt đôi trâu xuống ruộng cày, người ta dùng một dụng cụ nối liền cái cày với cái quải tròng lên cổ đôi trâu, đó là cây đỏi. Cây đỏi dài khoảng 1,5m, làm bằng cây tre đực thật già, đặc ruột, to hơn cán cuốc, hai đầu có tra 2 cái chốt, gọi là con sẻ. Hai đầu cây đỏi nối với cày và bộ quải là 2 cái dây nài. Dây nài được bện xoắn lại bằng mảnh tre cật. Cây đỏi đong đưa như chiếc võng để dễ dàng điều khiển đôi trâu và cái cày khi cày quanh góc ruộng. Cây đỏi đặt vô tháo ra dễ dàng vào sợi dây nài. Nhờ vậy, ngày xưa, người nông dân đang cày ruộng gần núi thấy cọp xuất hiện, cây đỏi trở thành vũ khí tự vệ cho người nông dân. Hay khi có cướp xông vào làng, cây đỏi cũng là một thứ vũ khí chống cướp.
      (nguồn: tổng hợp internet)
      p/s: Có chút trục trặc nhỏ sẽ post hình lên sau!
       
      Đang tải...

    Chia sẻ trang này

    Đang tải...
    Đang tải...