• Dismiss Notice

    Phật hoàng trần nhân tông

    Thảo luận trong 'Điểm báo - Chuyện đó đây' , 23/11/12

    1. Mây Trắng Nhà nông chuyên nghiệp

      Mây Trắng gửi các Bạn xem một trang Lịch Sử nước nhà . Và mong là các Bạn hãy xem trên tinh thần "Lịch Sử" . Chứ đừng nghĩ MT tuyên truyền Đạo hì hì ...

      .
      TIỂU SỬ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG
      SƠ TỔ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM VIỆT NAM(1258 - 1308)
      Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258 (11/11/Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.
      Lớn lên, năm 16 tuổi (1274), Ngài được lập làm Đông cung Thái tử và cùng năm Ngài kết duyên cùng công chúa Quyên Thánh, trưởng nữ Hưng Đạo Đại Vương. Vua Trần Thánh Tông đã mời các bậc lão thông Nho giáo, Tứ thư, Ngũ kinh để dạy cho Ngài như Lê Phụ Trần, Nguyễn Thánh Huấn, Nguyễn Sĩ Cố v.v… tất cả đều hết lòng dạy dỗ. Chính Vua cha cũng đã soạn Di hậu lục để dạy dỗ cho Thái tử cách xử thế, chuẩn bị nối nghiệp sau nầy.Về Phật pháp, Ngài học đạo với Tuệ Trung Thượng Sĩ, được Thượng Sĩ hết lòng hướng dẫn và trao đổi những yếu nghĩa Thiền tông. Ngài tâm đắc nhất là câu: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” (Quan sát lại chính mình đó là bổn phận, không do người khác làm được) và tôn thờ Tuệ Trung Thượng Sĩ làm Thầy. Ngài thường tới lui chùa Tư Phúc trong kinh thành để tụng kinh, tọa thiền, lễ bái Tam bảo.Năm 21 tuổi (1279), Ngài được Trần Thánh Tông truyền ngôi, trị vì thiên hạ Đại Việt, lấy đức trị vì, dân chúng an cư lạc nghiệp, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo.Trước thảm họa ngoại xâm, quân Nguyên - Mông chuẩn bị xâm chiếm nước Nam. Năm 1282, Ngài chủ trì Hội nghị Bình Than để lấy ý kiến toàn dân trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Năm 1284, trước khi cuộc chiến tranh diễn ra, Ngài chủ trì Hội nghị Diên Hồng, lấy ý kiến các vị Bô lão, những người đứng đầu các Bộ lạc. Toàn thể hội nghị già trẻ, gái trai đều một lòng tung hô quyết chiến.Năm 1285, với tinh thần bảo vệ dân tộc, Tổ quốc của toàn dân, Ngãi đã lãnh đạo và chiến thắng cuộc xâm lăng Nguyên – Mông lần thứ nhất.Với ý đồ bành trướng Phương Nam, tiến chiếm Chiêm Thành, làm bàn đạp thôn tính Đại Việt, Trần Nhân Tông lại một lần nữa lãnh đạo cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, với sự quyết tâm chiến thắng của toàn quân, toàn dân, Ngài đã chiến thắng quân Nguyên – Mông lần thứ hai năm 1288. Cảm hứng trước sự chiến thắng của dân tộc, Ngài đã làm hai câu thơ lưu lại:“Xã tắc hai phen chồn ngựa đáNon sông muôn thuở vững âu vàng”(Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mãSơn hà thiên cổ điện kim âu)Sau khi đất nước thanh bình, dân chúng an cư lạc nghiệp, Ngài đã củng cố triều đình, phủ dụ, đoàn kết toàn dân, xây dựng và phát triển đất nước trong thời hậu chiến. Với mục đích chủ hòa, Ngài đã bỏ qua những lỗi lầm đã có của quần thần cũng như thân tộc.Năm 41 tuổi (1293), Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng.Năm 1294, Ngài cầm quân sang chinh phạt Ai Lao, giữ yên bờ cõi và làm cho nước Triệu Voi tiếp tục thần phục Đại Việt.Sau khi chinh phạt Ai Lao, Ngài trở về Hành cung Vũ Lâm – Ninh Bình, cầu Quốc sư Huệ Tuệ làm lễ Xuất gia, tập sự tu hành tại đây một thời gian.Năm 1299. Ngài quyết tâm trở lại thăm Kinh sư lần cuối, rồi đi thẳng lên núi Yên Tử - Quảng Ninnh quyết chí tu hành, tham thiền nhập định, lấy tên là “Hương Vân Đại Đầu Đà” và độ Đồng Kiên Cương làm đệ tử và ban pháp hiệu là Pháp Loa.Năm 1301, Ngài hạ san, đi thăm hữu nghị đất nước Chiêm Thành và nghiên cứu về tôn giáo, tạo lập mối quan hệ hợp tác, hòa bình, hữu nghị với các nước lân bang. Trở về chùa Phổ Minh phủ Thiên Trường giảng kinh, thuyết pháp, mở Hội đại thí vô lượng cho nhân dân.Năm 1304, Ngài chống gậy trúc dạo đi khắp nước Đại Việt, khuyến khích muôn dân giữ năm giới, tu hành Thập thiện, dẹp bỏ những nơi thờ cúng không đúng Chính pháp, loại bỏ những điều mê tín dị đoan v.v… Ngài đến Bố Chánh – Quảng Bình lập am Tri Kiến và lưu lại đây một thời gian. Sau đó, được Vua Trần Anh Tông thỉnh vào nội cung để truyền giới Bồ tát cho Bá quan văn võ, quần thần.Sau chuyến thăm hữu nghị Chiêm Thành năm 1301, Ngài có hứa đính hôn Công chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm là Chế Mân. Năm 1305, Vua Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và phái đoàn ngoại giao mang vàng, bạc… sính lễ cầu hôn. Đến năm 1306, Ngài đứng ra chứng minh hôn lễ giữa Công chúa Huyền Trân và Chế Mân – Vua Chiêm Thành.Trước thành quả ngoại giao hôn phối ấy, Vua Chiêm đã dâng hai quận Châu Ô, Châu Rí cho Đại Việt làm quà sính lễ. Đây chính là điều kiện giúp cho Đại Việt mở rộng bờ cõi về phương Nam là Thuận Hóa (Huế).Năm 1307, Ngài truyền Y Bát lại cho Tôn giả Pháp Loa, lên làm Sơ Tổ Trúc Lâm và Pháp Loa là Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Trong thời gian đó, Ngài thường lui tới chùa Báo Ân Siêu Loại, Sùng Nghiêm Hải Duơng, Vĩnh Nghiêm Lạng Giang, chùa Từ Lâm, chùa Quỳnh Lâm Đông Triều để giảng kinh, thuyết pháp và chứng minh các Lễ hội…Sau khi truyền Y Bát cho Tôn giả Pháp Loa, Ngài tập trung biên soạn Kinh sách và Ngữ lục. Qua đó, Ngài đã để lại cho đàn hậu học một số tài liệu vô cùng quý báu như: Trần Nhân Tôn thi tập, Đại Hương Hải Ấn thi tập, Tăng Già Toái Sự, Thạch Thất Mỵ Ngữ, Trung hưng Thực Lục, Truyền Đăng Lục v.v….Trước khi nhập diệt, Ngài đã để lại bài kệ Pháp Thân Thường Trụ qua sự trả lời cho thị giả hầu cận bên Ngài là Bảo Sát: “Tất cả pháp không sanh. Tất cả pháp không diệt. Ai hiểu được như vầy. Thì chư Phật hiện tiền. Nào có đến có đi” (Nhất thiết pháp bất sanh. Nhất thiết pháp bất diệt. Nhược năng như thị giải. Chư Phật thường tại tiền. Hà khứ lai chi hữu).Theo sử cũ, Ngài xả báo an tường, thâu thần thị tịch ngày 01/11/Mậu Thân (1308). Thọ thế 51 năm tại am Ngọa Vân – Đông Triều – Quảng Ninh. Vua Trần Anh Tông cung thỉnh nhục thân Ngài về kinh đô Thăng Long cử hành Quốc tang trong thời gian hai tuần. Sau đó, Vua quan, quần thần, văn võ bá quan, đệ tử Pháp Loa, Bảo Sát và chúng Tăng trong nước cử hành Lễ Trà tỳ.Sau khi thu nhặt Xá lợi, Xá lợi được chia làm hai phần, một phần xây tháp thờ ở Lăng Quý Đức phủ Long Hưng – Thái Bình; một phần xây tháp tôn thờ tại chùa Vân Yên – Yên Tử, Quảng Ninh, lấy hiệu là Huệ Quang Kim Tháp, dâng Thánh hiệu: Đại Thánh Trần Triều, Trúc Lâm Đầu Đà, Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Phật Tổ.Nam Mô Trúc Lâm Sơ Tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Tổ Sư Tác Đại Chứng minh.






      [h=1]Phật hoàng Trần Nhân Tông[/h]16/12/2009 0:12
      [TABLE="class: image"]
      <tbody>[TR]
      [TD="class: img-news"][​IMG]
      [/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD="class: caption"]Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông bằng đá - Ảnh: tư liệu

      [/TD]
      [/TR]
      </tbody>[/TABLE]
      [h=2]* Anh hùng dân tộc, nhà văn hóa lớn, ông tổ Thiền tông VNHôm nay 16.12.2009 (nhằm 1.11 Kỷ Sửu), đại lễ tưởng niệm 701 năm ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn (1308 - 2009) sẽ cử hành trọng thể tại nhiều nơi trong nước. Vì sao Phật hoàng Trần Nhân Tông được cả người trong đạo lẫn ngoài đời tôn vinh?
      [/h]
      Trong vòng mấy thập niên qua, Phật giáo đời Trần với thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do ngài làm sơ tổ (vị tổ đầu tiên), lại có vận hội mới để khôi phục mạnh mẽ. Bằng chứng là rất nhiều ấn phẩm liên quan đến thiền phái, cũng như một số thiền viện mang tên Trúc Lâm như Trúc Lâm Lâm Đồng, Trúc Lâm Yên Tử, Trúc Lâm Tây Thiên, Trúc Lâm Bạch Mã... đã và đang xây dựng trang nghiêm từ Nam chí Bắc để làm đạo tràng thực hành tu học theo chủ trương của thiền phái Việt Nam.Các vua Trần có phạm tội sát sanh?
      Điều làm nhiều người thắc mắc là, Phật giáo đời Trần với các vị vua như Trần Thái Tông (Trần Cảnh) và nhất là Trần Nhân Tông (Trần Khâm) đã trực tiếp lãnh đạo tướng sĩ, quân dân thời đó đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông, máu giặc nhiều trận nhuộm đỏ nước sông Bạch Đằng, xác giặc trôi ngổn ngang trong dòng, phơi đầy ngoài biên ải, như thế xét về mặt giáo lý của nhà Phật, thì các vị vua ấy có phạm tội sát sanh hay không?
      Để trả lời, hòa thượng Thích Thanh Từ - người khởi xướng và chủ trương khôi phục Phật giáo đời Trần hiện nay - đã thử so sánh hành động của vua Lương Võ Đế bên Trung Hoa (thế kỷ 5 - 6) với vua Trần Thái Tông và vua Trần Nhân Tông ở Việt Nam (thế kỷ 13). Rằng khi vua Lương Võ Đế bị quân của Hầu Cảnh kéo đến vây chặt thành Kiến Khương (kinh đô nhà Lương), bấy giờ quần thần xin xuất quân chống giặc nhưng vua không cho, lại ra lệnh đóng chặt cửa thành, tụng kinh cầu nguyện cho giặc lui. Nhưng: “kết quả giặc chẳng lui, mà ông (vua Lương Võ Đế) bị mất nước (về sau nhịn đói chết). Trái lại vua Trần Thái Tông (và Trần Nhân Tông) là người ngộ được Thiền tông, khi giặc Nguyên - Mông xâm lăng vua chỉ huy cầm quân đánh giặc, giặc thua rút lui về, đất nước thái bình, vua mới ngồi yên tu thiền. Hai thái độ của hai ông vua đồng kính mộ đạo Phật, mà xử sự mỗi bên mỗi khác”. Rồi kết luận, khi bị giặc vây khốn, vua Lương Võ Đế không dụng binh mở vòng vây, mà chỉ ngồi trong thành tụng kinh cầu cho giặc lui, như thế là vọng tưởng, vì “đây là đem tôn giáo áp đặt lên chính trị nên phải mắc họa. Vua Thái Tông tách bạch phân minh phần nào thuộc tôn giáo, phần nào thuộc chính trị, nên cứu được đất nước khỏi lâm nguy. Tu theo Phật giáo là trau dồi đạo đức rèn luyện tâm linh là việc riêng của mỗi người phật tử, tức là lĩnh vực của tôn giáo. Giặc ngoại bang xâm lăng Tổ quốc, toàn dân đứng lên chống giặc, người lãnh đạo cổ động lòng yêu nước của dân và đứng ra chỉ huy đánh giặc là lĩnh vực chính trị. Phân rành lĩnh vực tôn giáo, lĩnh vực chính trị là vấn đề rất thiết yếu. Người phật tử thọ tam quy trì ngũ giới, nếu phạm giới sát sinh là có tội, đó là phần tu hành riêng của phật tử, thuộc lĩnh vực tôn giáo. Đất nước bị xâm lăng, toàn dân đứng lên chống giặc là trách nhiệm của mỗi công dân, thuộc lĩnh vực chính trị. Dù trong cuộc chiến có nhiều phật tử giết nhiều sinh mạng kẻ thù, song không thể mang tội sát sanh đặt vào chỗ này được”.
      Từ so sánh ấy, có thể rút ra trường hợp Phật hoàng (khi còn là Hoàng đế Trần Nhân Tông) vì lợi ích của toàn dân động binh chống giặc, là hoàn toàn đúng. Nên Phật hoàng được ca ngợi vì phước báu cứu người cứu nước từ xưa.
      Trường tồn qua 7 thế kỷ
      [TABLE="align: right"]
      <tbody>[TR]
      [TD][​IMG][/TD]
      [/TR]
      [TR]
      [TD]
      Tháp Huệ Quang thờ Phật hoàng ở chùa Hoa Yên, núi Yên Tử (Quảng Ninh) - Ảnh: tư liệu
      [/TD]
      [/TR]
      </tbody>[/TABLE]
      Mới đây, theo tinh thần thông tư của Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và nội dung thư mời dự tưởng niệm 701 năm ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập diệt đã ghi rõ đại lễ này nhằm “tưởng nhớ công lao và sự nghiệp vĩ đại của Phật hoàng Trần Nhân Tông, người anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại của non sông đất nước ta, là người đã sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam - thiền phái duy nhất trong lịch sử Việt Nam có sơ tổ là một thiền sư người Việt”. Theo đó, có ba điều trong cuộc đời Phật hoàng được mãi mãi tôn vinh:Thứ nhất, Phật hoàng Trần Nhân Tông là một hoàng đế anh hùng của dân tộc, lên ngôi năm 1279, lúc 21 tuổi. Dưới triều đại của ngài, hai hội nghị vang dội lịch sử là Hội nghị Diên Hồng và Hội nghị Bình Than đã được mở ra vì mục đích cứu nước. Ngài lãnh đạo quân dân tướng sĩ thời đó đánh tan giặc Nguyên - Mông hai lần. Lần đầu vào năm 1285 khi đánh bại đại binh của nhà Nguyên, rượt đuổi thái tử Thoát Hoan chui vào ống đồng trốn về nước, chém đầu nguyên soái Toa Đô, giết Lý Hằng và tùy tướng Lý Quán tại trận... Lần thứ hai vào năm 1288 ở sông Bạch Đằng, quân ta đóng cọc nhọn phủ cỏ lên trên, dụ thuyền giặc đến theo nước thủy triều, rồi vua tung quân đánh lớn, khiến quân xâm lược Nguyên bị “chết đuối nhiều không kể xiết”, thu 400 thuyền, bắt sống nguyên soái Ô Mã Nhi, Tích Lê Cơ, tham chính Sầm Đoàn, Phàn Tiếp, nguyên soái Điền, cùng các Vạn hộ, Thiên hộ đem về làm lễ báo cáo đại thắng ở Chiêu lăng. Vua nhân từ, sau thắng giặc, ra lệnh đại xá thiên hạ, tha thuế toàn phần cho những nơi bị giặc đốt phá. Giặc rút về, quân ta thu được cái hòm biểu đựng nhiều giấy xin hàng quân Nguyên của một số quan lại lúc đó. Thay vì trị tội, Phật hoàng ra lệnh đem hòm kia đốt đi, không truy tội, để làm yên lòng những kẻ trót tâm phản trắc.
      Thứ hai, Phật hoàng là nhà văn hóa lớn của Việt Nam. Ngài cải tiến chế độ thi cử, phát triển thơ văn chữ Nôm, chỉ đạo biên soạn các bộ sách quan trọng, cùng những hoạt động trí thức khác đã thực sự góp phần đẩy mạnh đà phát triển của nền văn hóa Đại Việt. Những thành công ấy, chẳng hạn về lĩnh vực văn học, đến thế kỷ 20 vẫn được các tác gia có uy tín ghi chép. Như Trần Trọng Kim qua Việt Nam sử lược nêu rõ “đời vua Nhân Tông có nhiều giặc giã, tuy vậy việc văn học cũng hưng thịnh lắm. Xem bài hịch của Hưng Đạo vương, thơ của ông Trần Quang Khải và của ông Phạm Ngũ Lão thì biết là văn chương đời bấy giờ có khí lực mạnh mẽ lắm. Lại có quan Hình bộ thượng thư là ông Nguyễn Thuyên khởi đầu dùng chữ Nôm mà làm thơ phú (Văn tế cá sấu)”. Chính Phật hoàng cũng sáng tác các tác phẩm như: Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Đại hương hải ấn thi tập, Tăng già toái sự, Thạch thất mị ngữ (do ngài Pháp Loa soạn lại).
      Thứ ba, Phật hoàng là ông tổ Thiền tông đầu tiên người Việt Nam. Trước ngài, một số hệ phái Thiền tông xuất phát từ Trung Hoa truyền sang như thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường với các vị đứng đầu gốc gác người Trung Quốc hoặc Ấn Độ. Đến thời Phật hoàng Trần Nhân Tông thì ngài mới lập phái thiền Trúc Lâm Yên Tử và là phái thiền đầu tiên - duy nhất đến nay có sơ tổ là Hoàng đế Việt Nam. Đến nay, những vị chủ trương khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần do xuất phát từ nhận định “giá trị Phật giáo ở Ấn Độ thật siêu xuất, giá trị Phật giáo Việt Nam cũng phi thường, mới đủ sức thuyết phục một ông hoàng, một ông vua đi tu. Ở Việt Nam đời Trần ông vua đi tu Phật (Trần Nhân Tông), ông trạng nguyên đi tu Phật (Huyền Quang), chúng ta thử xét giá trị đời ấy cao siêu đến ngần nào. Phật pháp đã cao siêu, người tu cũng đáng kính, cho nên Phật giáo rất thịnh hành trong thời Trần. Chúng tôi nhằm khôi phục Phật giáo đời Trần cốt nâng cao Phật giáo Việt Nam hiện nay là như thế”.
      Những điều nêu trên về Phật hoàng Trần Nhân Tông là những giá trị vĩnh cửu, cho dù Phật hoàng đã nhập Niết bàn từ hơn bảy thế kỷ qua...
      [TABLE="align: center"]
      <tbody>[TR]
      [TD]Sơn Phòng Mạn Hứng
      Thùy phược cánh tương cầu giải thoát
      Bất phàm hà tất mích thần tiên
      Viên nhàn mã quyện nhân ứng lão
      Y cựu vân trang nhất tháp thiền.

      Thị phi niêm trục triêu hoa lạc
      Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn
      Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch
      Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn

      Thơ Trần Nhân Tông
      [/TD]
      [TD]Phòng núi khởi hứngAi trói mà mong cầu giải thoát
      Chẳng phàm, nào phải kiếm thần tiên?
      Vượn nhàn, ngựa mỏi, người đã lão
      Như cũ vân trang một chõng thiền.

      Phải quấy niệm rơi hoa buổi sớm
      Lợi danh tâm lạnh với mưa đêm
      Mưa tạnh, hoa trơ, non vắng lặng
      Chim kêu một tiếng lại xuân tàn.

      (Hòa thượng Thích Thanh Từ dịch)


      [/TD]
      [/TR]
      </tbody>[/TABLE]


       
      Đang tải...

    Chia sẻ trang này

    Đang tải...
    Đang tải...