Thảo luận Sản xuất EDTA CU như thế nào?

#1
  1. Đặc tính của EDTA và các vận dụng trong đời sống
EDTA là từ viết tắt của EthyleneDiamineTetraacetic Axit amin tổng hợp. Đây là 1 axít hữu cơ mạnh (hơn 1.000 lần so sở hữu axít acetic) (EPA, 2004), được tổng hợp vào năm 1935 bởi nhà bác bỏ học F. Munz (Oviedo và Rodriguez, 2003). EDTA và những muối của nó thường ở dạng tinh thể màu trắng hoặc bột, không bay hơi và với độ tan cao trong nước. EDTA được tổng hợp từ ethylenediamine (C2H4(NH2)2), formol (HCHO) và gốc cyanide (HCN hoặc NaCN) (Sinax, 2011). Trong cấu trúc của EDTA mang 2 nhómamin (NH2) và 4 gốc carboxyl (COOH). Sản phẩm thương mại đầu tiên được sản xuất vào năm 1948 và khởi đầu dùng trong công nghiệp vì đây là một hợp chất giá rẻ,nhu cầu dùng thế giới hàng năm khoảng 100.000 tấn (Sinax, 2011). Những sản phẩm thương mại thường ở dạng muối như là CaNa2EDTA, Na2EDTA, Na4EDTA, NaFeEDTA,...(EPA, 2004). EDTA được tiêu dùng trong cung ứng chất tẩy rữa 33%, xử lý nước 18%, công nghiệp giấy 13% (được sử dụng để phòng các ảnh hưởng của các ion Fe2+, Cu2+, Mg2+ trong quá trình tẩy trắng) và các ngành công nghiệp khác (Oviedo và Rodriguez, 2003). Trong nuôi trồng thủy sản thì đượcsử dụng để xử lý kim loại nặng và làm cho giảm độ cứng của nước trong ương tôm, cá giống hoặc nuôi giết thịt. Đặc tính của EDTA là tạo phức mang những kim loại ở tỉ lệ 1:1. Khả năng tạo phức mang kim loại phụ thuộc vào pH của nước, chẳng hạn như Ca2+ và Mg2+ đề xuất pH khoảng 10 (Sinax, 2011). Mặt khác, sự tạo phức có các kim loại còn phụ thuộc vào hằng số hình thành phức, hằng số càng cao thì (Pb) hằng số K=1018, nhưng đối với Ca2+, K~108. Bởi vậy, theo Sinax 2011) trong môi trường nước, mặc dầu mang phổ quát Ca2+, nhưng Pb2+ sẽ khó khăn mang Ca2+.EDTA di chuyểnvào trong đất và tạo phức với những kim loại vết cũng như là những kim khí kiềm thổ (Na+, K+, Ca2+,...), trong khoảng ngừng thi côngĐây làm cho tăng độ hòa tan của kim khí. Đặc biệt là trong đất phèn, EDTA sẽ tạo phức kẹp (chelate) Fe-EDTA từ chậm tiến độ làm cho giảm quá trình hoạtđộng của Fe3+. Trong môi trường kiềm, EDTA lại tạo phức chủ yếu có Ca2+v

à Mg2+ tạo thành CaMg-EDTA (EPA, 2004) khiến giảm độ cứng của nước. Một khíacạnh khác là trong phân tử EDTA với 10% là nitơ, do đó khi sử dụng EDTA mang thể góp phần cung ứng thêm nitơ cho môi trường kích thích tảo tăng trưởng. Mặt khác, theo Sillanpaa (1997) trong nước Ca3(PO4)2 và FePO4 thường là các dạng không hòa tan khiến cho mất đi lượng lớn PO43-trong nước khiến cho giảm thiểu sự phát triển của tảo, từ Đó làm cho môi trường khó gây màu nước. lúc sử dụng EDTA sẽ tạo phức có Ca, Fe trong khoảng ngừng thi côngĐây giải phóng PO43-vào trong nước ở dạng hòa tan, từ chậm triển khai kích thích tảo phát triển (Oviedo và Rodriguez, 2003).

hai. Ảnh hưởng của EDTA Cu đối mang môi trường và thủy sinh vậtEDTA tạo phức mang kim loại, chừng độ ổn đinh của phức sẽ tùy thuộc vào từng kim loại khác nhau. Những muối của EDTA tan trong nước, 1 số ít sẽ hấp thu vào lớp bùn đáy ao, không bay khá và khả năng phân hủy sinh vật học chậm (EPA, 2003). Sự phân hủy sinh học của EDTA trong môi trường phụ thuộc vào cái đất, nhiệt độ, pH, vật chất hữu cơ và thành phần vi sinh vật (EPA, 2004). Hiện giờ, chưa có Con số về ảnh hưởng của EDTA lên sức khỏe con người. Bên cạnh đó, EDTA được chứng minh là với ảnh hưởnglên sự ức chế sự tổng hợp ADN (Heindorff et al., 1983, trích bởi EPA, 2004) và khi vào cơ thể, EDTA tồn tại trong thận 95%, và 5% còn lại trong túi mật. (EPA,2004). CaNa2EDTA được cho phép sử dụng trong bảo quản thực phẩm ở các nước Châu Âu và Mỹ ở ngừng cho phép trong khoảng 25-800 ppm (EPA, 2004). WHO qui định về dừng kết nạp tối đa là 2,5 mg/kg. Điều này sở hữu tức thị đây là ngừng để theo dõi hàm lượng EDTA trong nước uống. EDTA và muối của nó thường không gây độc cho động vật trên cạn (EPA, 2004). Hàm lượng EDTA mua thấy trong nước mặt khi không ở nồng độ rất rẻ (0-1,0 ppm) và ko tác động cho động vật thủy sinh (EAC, 2012). Ngoài ra, lúc tiêu dùng phổ thông mang thể thúc đẩy quá trình phát tán ô nhiễm kim khí. Thành ra, Hoa Kỳ khuyến cáo không nên tiêu dùng EDTA pha chế với chất gột rửa, xà phòng (Bedsworth và Sedlak, 2000). Tảo và động vật không xương sống nhạy cảm mang EDTA nhiều nhất vì chúng ảnh hưởng lên sự phân chia t

ế bào, sắc tố quang hợp chlorophyll-a (Dufkova (1984) (trích bởi Oviedo và Rodriguez (2003)). không những thế, một điều thú vị là trong môi trường với hàm lượng dinh dưỡng bằng có lượng EDTA thì EDTA không thể hiện tính độc (Oviedo v

à Rodriguez, 2003). Zhao et al. (2011) cảnh báo những phức mang kim khí có tính tự phân hủy sinh vật học chậm trong nước nhưng lại tan nhanh trong đất, điều này mang thể dẫn tới sự tích lũy kim loại và còn đó lâu trong đất. Nghiên cứu của Licop (1988) trên ấu trùng tôm sú Penaeus monodon cho thấy lúc bổ sung Na-EDTA ở nồng độ 5,0 và 10 ppm và trong nước ương vào ngày thứ 1, 4 và 7 sở hữu tác dụng nâng cao tỉ lệ sống của ấu trùng. mang cường độ dùng hàng ngày ở hàm lượng 10 ppm cho tỉ lệ sống tốt nhất.LC50 96 gi

ờ của EDTA trên cá là 430 ppm, LC50 48 giờ Daphnia là 100 ppm, EC trên tảo lam là 3 ppm. Nồng độ gây độc mạn tính trên cá là 10 ppm, Daphnia là 23 và tảo là 0,88 ppm (EPA, 2004). Ngày nay các nghiên cứu về LC50 của EDTA trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus), tôm sú (P. Monodon) và tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) chưa được nghiên cứu.Khi thí điểm Cd trên cá Hồi (Salmo gairdnen), Part và Wikmark (1984) cho rằng Cd2+ chuyển động trực tiếp vào trong mang và cao gấp 1.000 lần so với phức Cd-EDTA. Như v

ậy, EDTA sở hữu tác dụng rất khả quan lúc khiến cho giảm ảnh hưởng của kim loại nặng lên thủy sinh vật. Trong xử lý nước thải, nghiên cứu của Mayenkar và Lagvankar (1983) cho thấy EDTA với khả năng dòng bỏ Niken (Ni) hơn 60%, đồng (Cu) là 100% và đối có sắt (Fe) khoảng 85%. pH phù hợp động dao trong khoảng 7,5-9,5.EDTA cũng với tác động lên vi khuẩn gram âm vì với khả năng phá vở màng tế bào thông qua xâm nhập và làm cho mất nhóm acetyl (COCH3), từ Đó khiến giảm thiểu lượng Ca và Mg trong tế bào và làm mất chức năng của vách lipopolysarcharide (Oviedo và Rodriguez, 2003).

3. Cách tiêu dùng EDTA mang thể được tiêu dùng trong xử lý nước cấp trong phân phối giống thủy sản nước lợ, ương cá giống và trong nuôi thương phẩm tôm, cá . Đối sở hữu xử lý nước trong trại giống, liều thường ứng dụng trong khoảng 5-10 ppm. Trong khi xử lý nước trong nuôi tôm, cá thương phẩm, đối có các ao nuôi trong vùng có đaộ mặn thấp và đất nhiễm phèn. khi cấp nước vào ao khoảng 0,8-1 m, n

ếu độ kiềm tốt, nước mang màu vàng nhạt, sở hữu thể sử dụngEDTA ở liều 2-5 kg/1.000 để xử lý trước lúc bón vôi để nâng độ kiềm trong ao. Tùy theo tình huống cụ thể mà người nuôi mang thể tư vấn thêm cán bộ kỹ thuật. Trong quá trình nuôi sở hữu thể sử dụng EDTA có liều thấp hơn 0,5-1 ppm. Trên thị phần hiện giờ có phổ quát sản phẩm phối chế mang đựng thành phần EDTA, người nuôi với thể tuyển lựa và dùng theo chỉ dẫn của nhà sản xuất.
 


Đối tác


BÀI VIẾT YÊU THÍCH