• Thảo luận Tài liệu kỹ thuật, hướng dẫn Nuôi trùn.

    Thảo luận trong 'Chăn nuôi' , 28/9/16

    1. PhantrunqueSFarm Nhà nông tập sự

      Xin chào mọi người,

      Hiện nay mình thấy có nhiều anh/chị đang quan tâm đến vấn đề nuôi trùn và đặc biệt là nuôi trùn quế.
      Mình xin chia sẻ bộ tài liệu kỹ thuật "Sổ tay nuôi trùn SFarm" của công ty mình.
      Hi vọng sẽ giúp ích nhiều cho các anh/chị.
      Trong quá trình nuôi trùn, nếu mn có gặp khó khăn gì, thì cùng trao đổi, mình sẽ cố găng chia sẻ cũng như nhờ bộ phân kỹ thuật, tư vấn chi tiết hơn về nuôi trùn :)

      Mn có thể xem tài liệu online tại đây: http://www.slideshare.net/ktqd2011/s-tay-nui-trn-qu-sfarm
      Hoặc tải tài liệu tại đây: Sổ tay nuôi trùn - SFarm
      --- @ 5/10/16 ---
      Phần 1: Mở đầu

      1. Mục đích của sổ tay
      Cuốn sổ tay này hướng dẫn kỹ thuật nuôi trùn quế. Giúp cho người nuôi nắm vững đặc điểm sinh thái, sinh lý của trùnquế. Hướng dẫn kỹ thuật làm chuồng trại, xử lý thức ăn cho trùn, chăm sóc và thu hoạch trùn, phát hiện kiểm soát và phòng trừ dịch bệnh để đảm bảo quá trình nuôi trùn đạt năng suất chất lượng cao. Nhìn thấy được tiềm năng, lợi ích của con trùn đối với đời sống cũng như tiềm năng của nghề nuôi trùn.

      2. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
      2.1. Phạm vi điều chỉnh
      Sổ tay này hướng dẫn kỹ thuật nuôi trùn quế trong rừng cao su sử dụng bạt che, nuôi trùn bên ngoài dựng trại lợp tôn. Nuôi trùn sử dụng phân bò.

      2.2. Đối tượng áp dụng
      Sổ tay này phục vụ cho các hộ nông dân, nhà sản xuất liên kết hợp tác với công ty.

      3. Giải thích thuật ngữ.

      3.1. Ủ phân (composting): là quá trình lên men sinh học, tự nhiên mà qua đó các chất hữu cơ được phân hủy. Quá trình này sinh ra nhiều nhiệt lượng làm giảm hoặc trừ các mối nguy sinh học trong chất hữu cơ.

      3.2. Tạp chất (foreign objects): là các vật không chủ ý như các mẫu thủy tinh, kim loại, gỗ, đá, đất, lá cây, cành cây, nhựa, hạt cỏ,… lẫn vào bên trong hoặc bám trên bề mặt sản phẩm, ảnh hưởng xấu đến chất lượng và sự an toàn của sản phẩm.

      3.3. Kén trùn (earthworm cocoons): sau khi giao phối, trứng đã được thụ tinh sẽ chứa trong kén. Mỗi kén chứa từ 1 – 20 trứng.

      3.4. Sinh khối: là một hỗn hợp gồm môi trường sống của trùn, trùn bố mẹ, trùn con và kén trùn cùng với thức ăn củatrùn.

      3.5. Phân bón: là một hỗn hợp dinh dưỡng được hòa tan thành dạng dung dịch
      --- @ 5/10/16 ---
      Phần 2: Giới thiệu về trùn quế.

      2.1. Đăc ̣ điểm hìnhh thái.
      Cơ thể có hình trụ, dài hơi dẹp, phần đầu và đuôi hơi nhọn, cơ thể thon dài phân thành nhiều đốt. Mỗi đốt có một vòng tơ, khi di chuyển các đốt co duỗi kết hợp với lông tơ bên dưới các đốt bám vào cơ chất đẩy cơ thể di chuyển dễ dàng.
      Trên cơ thể trùn đã trưởng thành về sinh dục thường có 1 vòng có dạng như chiếc nhẫn, đây là đai sinh dục. Đai sinh dục thể hiện rất rõ khi trong giai đoạn sinh sản, thường vào ngày thứ 30 trong chu kỳ đời sống.

      2.1.1. Màu sắc:
      Tùy theo tuổi, trùn mới nở có màu trắng, trùn con có màu hồng nhạt, trùn trưởng thành và già có màu đỏ với màu mận chín có mặt lưng màu nhạt dần về phía bụng, bên ngoài cơ thể có một lớp kitin mỏng chứa sắc tố do đó khi ra ánh sáng cơ thể chúng phát quang màu xanh tím, có đường kẻ dưới bụng màu nhạt và sáng ở gần vành miệng.

      2.1.2. Kích thước:
      Trùn nhỏ dài khoảng 3cm, tiết diện 0,2cm. Trùn trung bình dài khoảng 3 – 10cm, tiết diện thân 0,2 – 0,5cm. Trùn lớn dài trên 10cm, đường kính 5 – 6mm (Gautam và Chaudhuri, 2002. Trích dẫn bởi Nguyễn Văn Bảy, 2002)

      2.1.3. Cấu tạo cơ thể trùn.

      Hệ thống tiêu hóa: Gồm lỗ miệng => xoang miệng => hầu => thực quản => mề => dạ dày => ruột =>manh tràng => trực tràng và hậu môn.

      Lỗ miệng: Trùn nuốt thức ăn bằng lỗ miệng, lỗ miệng nằm ở đỉnh đầu và hơi lệch về phía bụng.
      Xoang miệng: Nằm ở đốt I và II, không có răng, vách xoang miệng mỏng có tác dụng tiếp nhận và giữ thức ăn.
      Hầu: Vách hầu có tầng cơ dày kéo dài từ đốt thứ III cho đến đốt thứ V.
      Thực quản: Nằm ở đốt thứ VI và đốt thứ VII, hai bên thực quản nhô ra 1 hoặc nhiều đôi có dạng hình túi, đó là tuyến Ca, có tác dụng điều tiết độ pH, hỗ trợ các enzyme tiêu hóa hoạt động và hệ vi sinh vật hữu ích trong đường tiêu hóa tồn tại và hoạt động đồng thời cũng có tác dụng quan trọng trong việc thải khí CO2 ra ngoài.
      Mề: Là bộ phận phình to của ống tiêu hóa có dạng túi tròn, thành mề mỏng, nằm ở đốt thứ VIII, IX, X. nó có tác dụng chứa thức ăn tạm thời, làm ướt và làm mềm thức ăn và cũng có tác dụng nhất định trong việc tiêu hóa một phần protein của thức ăn.
      Dạ dày: Là phần thu hẹp lại của ống tiêu hóa, nằm ở đốt thứ XI đến đốt thứ XIV, thông với ruột non, có tác dụng tiết ra enzyme tiêu hóa như enzyme protease, amylase, lipase, cellulose, kitinase, ..
      Trực tràng: Có thành mỏng và hẹp, không có tác dụng tiêu hóa thức ăn mà chỉ là nơi chứa các chất thải sau khi tiêu hóa và đẩy ra ngoài qua hậu môn.

      Lượng thức ăn mỗi ngày được ghi nhận là tương đương với trọng lượng cơ thể nó. Những vi sinh vật cộng sinh có ích trong hệ tiêu hóa theo phân ra khỏi cơ thể trùn nhưng vẫn còn hoạt động ở màng dinh dưỡng trong một thời gian dài. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho phân trùn có hàm lượng dinh dưỡng cao và có hiệu quả cải tạo đất tốt hơn dạng phân hữu cơ phân hủy bình thường trong tự nhiên.

      Hệ tuần hoàn: Có dạng ống khép kín, gồm có hệ mạch máu trung tâm, hệ mạch xung quanh ruột và vòng tuần hoàn ngoại biên. Máu của trùn quế là dịch thể màu hồng, không chứa các tế bào hồng cầu, nhưng trong huyết tương có Hemoglobin nên máu có màu đỏ. Hệ tuần hoàn kết hợp với hệ hô hấp thông qua mạng lưới mao mạch dưới da tạo điều kiện trao đổi khí qua da…

      Hệ hô hấp: Không có cơ quan hô hấp riêng, trùn hô hấp qua da. Oxy trong môi trường được hòa tan vào chất nhầy trên bề mặt cơ thể trùn, sau đó thấm vào hệ thống mạch máu phân nhánh li ti bên trong rồi được vận chuyển đến các cơ quan; việc thải CO2 cũng thông qua một tiến trình tương tự.

      Hệ bài tiết: Trùn bài tiết chất thải chứa đạm dưới dạng ammoniac và urea qua các cặp thận ở các đốt.

      Hệ thần kinh: Gồm hạch não, chuỗi hạch thần kinh bụng và dây thần kinh cùng với cơ quan cảm giác và cung phản xạ, trong hệ thần kinh còn có một số tế bào tiết ra các kích thích tố ảnh hưởng rất lớn đối với sinh sản và tái sinh sản. Đáng chú ý là trùn quế không có mắt nhưng vẫn có cảm giác với ánh sáng nhờ tế bào cảm nhận ánh sáng nằm phântán dưới da.

      Hệ sinh dục: Trùn quế là loại động vật lưỡng tính, do đó chúng thụ tinh chéo để sinh sản, tuyến sinh dục tập trung ở một số đốt và có hệ thống dẫn tinh riêng.
      - Cơ quan sinh dục cái gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, túi nhận tinh.
      - Cơ quan sinh dục đực gồm có: tinh hoàn, túi chứa tinh, ống dẫn tinh và tiến liệt tuyến. Cơ quan sinh dục nằm về phía đầu của cơ thể.

      2.2. Đặc điểm sinh lý.
      Trùn quế sống trên mặt đất, thích sống nơi môi trường ẩm ướt, tối, có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy và độ pH ổn định. Tế bào da của trùn quế rất mỏng, thường xuyên tiết ra chất nhờn để bảo vệ cơ thể và thích ứng với điều kiện chui rúc trong môi trường tối và ẩm thấp đo đó trùn quế rất nhạy, phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ và biên độ nhiệt độ cao, độ mặn và điều kiện khô hạn.

      2.2.1 Nhiệt độ:
      Trùn có thể sống trong nhiệt độ từ 50C – 300C, nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và sinh sản của trùn là 250C – 300C, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối ổn định và có độ ẩm cao như điều kiện của khu vực phía nam, chúng sinh trưởng và sinh sản rất nhanh. Ở nhiệt độ môi trường quá cao, để thích nghi trùn sẽ huy động năng lượng bằng cách tăng cường hô hấp, kéo theo quá trình dị hóa tăng theo, từ đó tiêu tốn thức ăn cũng tăng lên do đó nhiệt độ cao chúng sẽ bỏ đi và chết dần. Quá trình trên theo chiều ngược lại ở nhiệt độ quá thấp, chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết.
      Tóm lại, chúng có thể chết khi nhiệt độ cao, quá thấp hoặc khi quá khô và nhiều ánh sáng nhưng chúng lại có thể tồn tại khá lâu trong môi trường nước có đầy đủ oxy.

      2.2.2. Độ ẩm:
      Nướ c là thành phần quan trọng chiếm 80 – 85% khối lượng cơ thể trùn, đô ̣ ẩm thích hơp ̣ nhất cho trùn sinh trưởng và phát triển là 60 – 70%. Đô ̣ ẩm và nhiêṭ đô ̣ có quan hê ̣lẫn nhau lên sự sinh trưở ng và sinh sản của trùn, đô ̣ ẩm quá cao có thể làm kén trùn bi ̣thối, không nở được.

      2.2.3. Ánh nắng:
      Trùn rất sợ ánh nắng nên cần phải che chắn để tránh ánh nắng trực tiếp rọi vào chuồng làm cho trùn sợ và chui xuống phía dưới để sống. Tuy nhiên, khi che chắn vẫn phải đảm bảo được sự thông thoáng của chuồng trại và nhiệt độ trong chuồng nuôi.

      2.2.4. Độ pH:
      Chúng có thể sống ở phổ pH khá rộng từ 4 – 9, tuy nhiên trùn quế sống và sinh sản tốt nhất ở pH 6,5-7,5. Nếu quá thấp chúng sẽ bỏ đi.

      2.2.5. Không khí:
      Trùn quế hô hấp qua da, chúng có khả năng hấp thu oxy và thải CO2. Do đó, môi trường sống đòi hỏi thoáng khí, thức ăn của trùn là phân nên hàm lượng khí độc hại (CO2, H2S, SO3, NH4) luôn tồn tại trong luống nuôi và chuồng nuôi. Do đó phải tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi, tránh để tồn lưu khí độc hại ảnh hưởng tới sự phát triển của trùn. Theo Willis (1995) và Edward (1998) cho rằng p.excavatus không thể sống tốt trong chất thải hữu cơ chứa nhiều NH3.

      2.2.6. Thức ăn:

      Chúng ăn bất kỳ chất thải hữu cơ nào có thể phân hủy trong tự nhiên (rác đang phân hủy, phân gia súc, gia cầm…). Tuy nhiên, những thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao sẽ hấp dẫn chúng hơn, giúp cho chúng sinh trưởng và sinh sản tốt hơn. Đặc biệt là phân bò sữa.

      2.3. Đặc điểm sinh sản.
      Trùn quế là sinh vật lưỡng tính (có cả cơ quan sinh duc ̣ đưc ̣ và cái), chúng có đai và các lỗ sinh dục nằm ở phía đầu của cơ thể, có thể giao phối chéo với nhau để hình thành kén ở mỗi con, kén được hình thành ở đai sinh dục, kén trùndi chuyển dần về phía đầu. Kén trùn quế có dạng thon dài, môṭ đầu tròn và đầu kia nhọn hơn, gần giống như hạt bông cỏ, kích thướ c cỡ 1mm ban đầu có màu trắng đục, sau chuyển sang xanh nhạt rồi vàng ngoc ̣ trai, sau đó chuyển tớ i màu xanh luc ̣ hoăc ̣ nâu nhaṭ rồi nâu sẫm khi kén sắp nở .

      Thời gian nở hoàn toàn khác nhau tù y thuôc ̣ vào điều kiên ̣ môi trườ ng – nhiêṭ đô,̣ đô ẩm, trong điều kiên ̣ bình thườ ng thờ i gian nở của kén trùn Perionys excavatus là 2 – 3 tuần, mỗi kén chứa từ 1 – 20 trứng. Khi nhiêṭ đô ̣ tăng thì thờ i gian trung bình kén nở giảm và tỷ lê ̣kén nở tăng.

      Số lượng kén thay đổi theo giống loài, thông thường nếu chăm sóc tốt trong điều kiện thích hợp trùn có thể đẻ kén liên tục, mỗi tuần đẻ một kén. Với loài sống hoang dã trong tự nhiên nó sinh sản theo mùa rõ rệt.
      Số kén, tỷ lê ̣nở và tỷ lê ̣sinh sản mỗi tuần của trùn quế trên chất hữu cơ độngg vậṭ và thực vật đều cao hơn so với một số loài trùn khác.

      Trùn trưởng thành (0,12g/con) → bắt đầu sinh sản → Kén (nở sau 2 – 3 tuần). Mỗi kén có thể nở từ 1 – 20 trùn con →Trùn con (<0,05g/con, dài 2 – 3mm). Sau 5 – 7 ngày Cơ thể chúng sẽ chuyển dần sang màu đỏ và bắt đầu xuất hiện một vằn đỏ thẫm trên lưng dài 1 – 2cm.

      Trùn sinh trưởng bằng cách tăng số lượng đốt thân hoăc ̣ tăng tiết diên ̣ đốt.
      Khoảng từ 15 –30 ngày sau, chúng trưởng thành và bắt đầu xuất hiện đai sinh dục (theo Arellano, 1997); từ lúc này chúng bắt đầu có khả năng bắt cặp và sinh sản. Con trưởng thành khỏe mạnh có màu mận chín và có sắc ánh kim trên cơ thể.
      Sau 60 ngày, trùn đaṭ 8 – 10cm (thu trùn thiṭ lúc này là tốt nhất).
      Từ 70 – 90 ngày trùn bắt đầu để trứ ng nhưng tỷ lê ̣nở thấp.
      Từ 90 ngày tuổi trở đi, trùn trưở ng thành hoàn chỉnh, trùn đẻ rất khỏe (1 tuần đẻ 1 lần) và tỷ lê ̣trứ ng nở cao nếu trùn đươc ̣ chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Những con trùn đã già có đai sinh duc ̣ thoái hóa.

      Thời gian sinh sản của trùn liên tục quanh năm và cứ diễn ra trung bình một tuần một lần, nếu không có yếu tố bất lợi thì sự phát triển của trùn quế luôn tăng theo cấp số nhân.

      2.4. Tâp ̣ tính ăn.
      Trùn quế thích nghi với phổ thức ăn rộng, chúng có thể ăn bất kỳ chất thải hữu cơ nào có thể phân hủy trong tự nhiên như phân gia súc, gia cầm, rác muc ̣ ... Tuy nhiên, thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao sẽ hấp dẫn chúng và giúp chúng sinh trưở ng và sinh sản tốt hơn.
      Do vậy trong tự nhiên, trùn quế không đào hang sâu mà sống ở phía trên lớp bề măṭ, những nơi ẩm thấp, gần cống rãnh, nơi có nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy và thối rữa như trong đống phân động vâṭ, rác hoai mục.
      Chúng thường tìm thức ăn khi trời tối. Chúng ít hiện diện trên các đồng ruộng canh tác dù nơi đây có nhiều chất thải hữu cơ. Có lẽ do tỉ lệ Carbon/Nitro của những chất thải này thường cao, không hấp dẫn và do môi trườ ng nơi đây không đảm bảo điều kiên ̣ ẩm thườ ng xuyên.
      --- @ 5/10/16 ---
      Phần 2. Giới thiệu về phân trùn quế

      3. Lợi ích của trùn quế.

      3.1 Trong nông nghiệp
      Phân trùn quế giúp cải tạo đất:
      Phân trùn quế cung cấp các chất khoáng đa lượng (đạm, lân, kali), trung lượng (canxi, magie, lưu huỳnh). Sự hữu dụng nhất là các chất này có thể được cây hấp thu ngay không như những phân hữu cơ khác phải được phân hủy trong đất trước khi cây trồng hấp thụ. Chất mùn trong phân trùn loại trừ được những độc tố, nấm hại và vi khuẩn có hại trong đất, nên nó có thể đẩy lùi những bệnh của cây trồng.

      Do vậy, phân trùn quế hạn chế khả năng gây hại cho cây trồng.
      - Phân trùn quế có khả năng cố định các kim loại nặng trong chất thải hữu cơ. Điều này ngăn ngừa cây trồng hấp thu nhiều phức hợp khoáng hơn nhu cầu của chúng.
      - Acid Humid trong phân trùn quế, kích thích sự phát triển của cây trồng, thậm chí ngay cả nồng độ thấp, aid humid như chất nền để vi khuẩn trong đất sinh trưở ng, phát triển.
      - Phân trùn quế tăng khả năng giữ nước của đất vì phân trùn có dạng hình khối, nó là những cụm khoáng chất kết hợp theo cách mà chúng có thể để chống sự xói mòn và sự va chạm cũng như khả năng giữ nước, góp phần làm cho đất tơi xốp và giữ ẩm được lâu.
      - IAA (Indol acetic acid) có trong phân trùn như những chất kích sinh trưở ng.

      Phân bón lá chế biến từ trùn hay còn gọi là dịch trùn quế: Đây là sản phẩm phân bón lá được sản xuất từ trùn thịt thông qua quá trình thủy phân bằng enzyme sinh học, chứa một hỗn hợp acid amin dạng dễ hấp thu cho cây trồng cũng như vật nuôi, ngoài ra còn được bổ sung đa trung vi lượng để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của cây trồng, bên cạnh đó còn chứa acid fulvic và acid humic là 2 loại a xít hữu cơ có lợi cho đất và rễ cây phát triển toàn diện, và hoàn toàn không có chứa các chất độc hại.

      Phân trùn làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản và là một loại phân hữu cơ thiên nhiên giàu dinh dưỡng nhất mà con người từng biết đến. Thức ăn chủ yếu của trùn là phân trâu bò, ngựa, dê, cừu, thỏ, lợn, gà, phế thải rau, củ quả, cây thân thảo và các loại rác thải hữu cơ hoai mục…

      Thức ăn sau khi qua bụng trùn được trùn tiêu hoá sẽ thải ra phân trùn. Phân trùn nếu được bổ xung thêm khoáng chất P và một số loại axit amin như: tyrosin, arginin, cystin, methiomin, histidin… thì phân trùn có thể làm thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm, thủy sản.

      Phân trùn chứa một hỗn hợp vi sinh có hoạt tính cao, chất xúc tác sinh học, dễ hòa tan trong nước. Do đó phân trùn không chỉ kích thích tăng trưởng cây trồng, mà còn tăng khả năng cải tạo đất.

      Hàm lượng N – P – K, Ca và các chất khoáng vi lượng trong phân trùn, cao gấp 2 – 3 lần phân trâu bò, phân ngựa; gấp 1,5 – 2 lần phân lợn và phân dê. Hơn nữa, phân trùn không có mùi hôi thối như các loại phân gia súc, gia cầm, rất thuận lợi cho việc bảo quản và vận chuyển.

      Phân trùn làm giảm hàm lượng acid carbon trong đất và gia tăng nồng độ nitơ ở trạng thái cây trồng có thể hấp thu được. Chất acid humic ở trong phân trùn có thể giúp cây trồng dễ dàng hấp thụ nhiều hơn bất kỳ chất dinh dưỡng nào khác. Chất IAA (Indol Acetic Acid) có trong phân trùn là một trong những chất kích thích hữu hiệu, giúp cây trồng tăng trưởng tốt.

      Phân trùn có thể giúp chống sự xói mòn và tăng khả năng giữ nước trong đất. Cây trồng khi bón phân trùn sẽ không bị “cháy”, khống chế được các kim loại nặng xâm nhập cây gây đột biến làm phát sinh tế bào lạ có hại, gây hoại tử rễ...Chất mùn trong phân trùn loại trừ được những độc tố, nấm và vi khuẩn có hại trong đất, có thể ngăn ngừa các bệnh về rễ và đẩy lùi nhiều bệnh của cây trồng.

      Phân trùn có tác dụng điều hòa môi trường đất rất tốt, giúp cây phát triển ngay cả khi nồng độ pH trong đất quá cao hoặc thấp. Phân trùn hoạt động như một rào cản ngăn ngừa mức độ pH quá cao khiến cho cây trồng không thể hấp thu dinh dưỡng từ đất. Việc nuôi trùn quế lấy phân, chính là việc áp dụng công nghệ xử lý rác thải hữu cơ bằng con trùn quế (công nghệ VERMICOMPOST), một trong những công nghệ rẻ tiền nhất.

      Hiện tại, phân trùn quế thường được sử dụng cho mục đích như: Kích thích sự nẩy mầm và phát triển của cây trồng. Điều hòa dinh dưỡng và cải tạo đất, làm cho đất luôn màu mỡ và tơi xốp. Dùng làm phân bón lót cho cây và rau quả, tạo ra sản phẩm có chất lượng và năng suất cao.

      Dùng làm phân bón lá hảo hạng và có khả năng kiểm soát sâu bọ hại cây trồng. Vì vậy, phân trùn là loại phân sạch thiên nhiên quí giá để bón cho hoa, cây cảnh, rau quả trong nông nghiệp sạch, được thị trường rất ưa chuộng.

      3.2 Thức ăn lý tưởng nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản.
      Trùn là loại thức ăn giàu đạm, chất lượng cao để nuôi gia súc, gia cầm và thuỷ sản, đồng thời làm giảm chi phí thức ăn chăn nuôi.

      Với hàm lượng protein thô chiếm 70% trọng lượng khô, hàm lượng đạm của trùn tương đương với bột cá, thường được dùng trong thức ăn chăn nuôi. Trùn còn hội đủ 17 loại axit amin trong đó có 9 loại axit amin không thay thế, nhiều vitamin B1, B3, B12, B6; chất khoáng cần thiết cho gia súc P, Ca, Fe; gia cầm và thủy sản. Đặc biệt, trùn còn có các loại kích thích tố sinh trưởng tự nhiên, mà trong bột cá không có. Thức ăn chăn nuôi có bột trùn sẽ không có mùi tanh và khét của cá và dầu cá, hấp dẫn với vật nuôi, lại bảo quản được lâu hơn thức ăn có dùng bột cá.

      Theo W.T.Mason (Đại học Phlorida – Mỹ): Trùn, nhất là trùn tươi, là thức ăn lý tưởng để nuôi thủy sản, nhất là sản xuất con giống ba ba, rùa, lươn, tôm, cá Chình, đặc biệt là nuôi cá Tầm - Một loại cá quý để ăn và sản xuất món trứng cá muối rất đắt tiền.

      Nếu cho chúng ăn trùn tươi hàng ngày bằng 10% - 15% trọng lượng cơ thể sẽ tốt hơn bất cứ loại thức ăn nào khác, tốc độ sinh trưởng sẽ tăng 15% - 40%, năng suất trứng tăng trên 10%. Nếu trộn 2 – 3% bột trùn dùng để nuôi, năng suất sẽ tăng trên 30%, giá thành thức ăn giảm 40% - 60%, đồng thời tăng sức sinh sản và sức kháng bệnh của tôm cá. Điều này rất có ý nghĩa khi thức ăn chăn nuôi đắt đỏ như hiện nay.

      Hiệp hội nuôi gà của Mỹ cho rằng: Trùn là phương án hàng đầu cung cấp Protein chất lượng cao, rẻ nhất, dễ nhất cho vật nuôi, đặc biệt là gà. Thức ăn được trộn 2 - 3% bột trùn để nuôi lợn, tốc độ tăng trọng trên 74.2%. Nếu nuôi gà, thì năng suất trứng tăng 17% - 25%, tốc độ sinh trưởng tăng 56% - 100%.

      Đặc biệt, nếu nuôi gà bằng thức ăn có trùn tươi thì hầu như gà không bị bệnh; trong khi nếu nuôi bằng thức ăn không có trùn, tỉ lệ mắc bệnh cúm gà 16% - 40%. Tại Philipin trùn quế được liệt vào danh mục thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao cho nuôi trồng thủy sản.

      Trùn Quế còn chứa trên 8% axit glutamic (còn gọi là bột ngọt hay mì chính), nên khi sử dụng làm thức ăn chăn nuôi thì vật nuôi ăn khỏe, chóng lớn, đẻ khỏe, ít bệnh tật và sẽ cho thịt thơm ngon hơn hẳn so với vật nuôi thông thường. Vì vậy ngày càng có nhiều hãng sản xuất thức ăn công nghiệp quan tâm đưa bột trùn trộn vào thức ăn chăn nuôi để tạo sự khác biệt so với thức ăn thông thường, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

      Những ứng dụng từ trùn quế trong việc nuôi trồng thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể. Trùn quế được các trung tâm khuyến ngư khuyên dùng làm thức ăn cho tôm cá nhằm tăng sức đề kháng và giảm được loại bệnh do vi sinh vật. Đồng thời phân trùn cũng được các trung tâm khuyến ngư khuyên dùng trong việc xử lý ao nuôi tôm, tạo màu.

      3.3 Trùn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
      Trùn có sức tiêu hóa lớn. Một tấn trùn có thể tiêu hủy được 70 – 80 tấn rác hữu cơ, hoặc 50 tấn phân gia súc trong một quý. Các nước trên thế giới đã tận dụng cơ năng đặc thù này của trùn để xử lý chất thải sinh hoạt hoặc rác thải hữu cơ, làm sạch môi trường, có hiệu quả tốt.

      3.4 Nguồn dược liệu quý
      Từ xa xưa, loài người đã sử dụng trùn đất để làm thuốc. Ở Trung Quốc, việc sử dụng trùn đất trong y học đã có lịch sử hơn 1.000 năm. Trong cuốn “Bản thảo cương mục” nổi tiếng của y học cổ truyền Trung Hoa có ghi chép: “Trùn là nguyên liệu sản xuất 40 bài thuốc, chữa được rất nhiều loại bệnh”.

      Y học cổ truyền của nhiều nước, trong đó có Việt Nam, đã dùng trùn đất để chữa các bệnh về huyết áp, tim mạch, thần kinh, kháng ung thư, hen suyễn, sốt rét, thấp khớp, đậu mùa, thương hàn, gãy tay chân vv…

      Loại axid amin tyrosin trong trùn có thể tăng tuần hoàn máu ngoại vi của bề mặt cơ thể, tăng tán nhiệt, có tác dụng giải nhiệt, hạ sốt. Dung dịch cồn của trùn, có tác dụng giảm huyết áp từ từ và giữ được lâu bền, sử dụng rất tốt cho người cao huyết áp.

      Rượu thuốc lumbrokinase làm từ trùn đất đã thanh trùng, ngâm rượu, đến khi có màu nâu đậm, đem ra sử dụng sẽ giúp ngăn ngừa tai biến mạch máu não, xơ vữa động mạch và mỡ máu ở người cao tuổi. Trong cơ thể trùn có chất xúc tác, có tác dụng co bóp cổ tử cung, trợ giúp sản phụ dễ dàng khi đẻ. Thành phần đạm trong chiết suất của trùn, có tác dụng giãn nở khí quản, trị bệnh hen xuyễn.

      Nhờ việc chứa hàm lượng rất cao của axit linoleic, cùng khoáng chất vi lượng đặc hiệu chống oxy hóa, trùn giúp tăng năng lực sát khuẩn, tăng cường miễn dịch, nâng cao sức đề kháng trong cơ thể, nên tăng được khả năng chống ung thư, giảm hội chứng thiểu năng trí tuệ (bệnh Dow) ở trẻ em, ổn định sự hoạt động của cơ tim nên phòng được các bệnh bất thường về tim, ngăn ngừa viêm gan, loét dạ dày, viêm đường ruột, thấp khớp, viêm họng, tiểu đường, yếu về sinh lý. Hàm lượng Zn có trong trùn giúp điều trị đối với những trẻ em biếng ăn, tóc thưa, chậm lớn, ngăn ngừa sự phát triển không bình thường về
      tri giác và thính giác ở trẻ em. Ngoài ra, nó còn điều trị suy nhược thần kinh toàn diện, trí nhớ kém, ngủ kém, khứu giác bất thường.

      Trong các tác dụng chữa bệnh của trùn đất thì tác dụng cấp cứu những trường hợp đột quỵ do tai biến mạch máu não là được quan tâm nhiều nhất. Từ năm 1911 các nhà khoa học Nhật Bản đã tìm thấy trong trùn đất có hoạt chất lumbritin có tác dụng phá huyết ứ. Ba loại men chủ yếu có trong trùn là: earthworm, fibrinolytic enzym (EFE) earthworm collagemase và lumbrokinase, khi tiến hành điều trị lâm sàng qua đường tiêu hóa, sẽ được hấp thụ vào máu, làm tan nhanh các cục máu đông gây nghẽn mạch. Men không độc, không có tác dụng phụ về xuất huyết, dễ sử dụng, giá rẻ, được coi là thuốc
      chữa nghẽn mạch lý tưởng.

      Chất enzyme fibrinolytic trong trùn quế có khả năng thủy phân mạnh mẽ, làm đứt các sợi fibrin - một loại protein trong máu - vốn có tác dụng làm đông máu, giúp liền vết thương, nhưng đồng thời nó cũng là nguyên nhân gây nên xơ vữa thành mạch của bệnh nhân tim mạch hoặc mỡ máu, gây tắc mạch máu. Đó chính là cơ chế dùng trùn quế để cứu chữa các bệnh nhân bị hôn mê do đột quỵ, sốt xuất huyết, chấn thương sọ não, gãy chân tay...

      Ở Việt Nam, toa thuốc và tên bài thuốc sử dụng trùn đất chữa tai biến mạch máu não đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX, được in lại trong cuốn sách “Hai trăm bài thuốc quí” của ông Lê Văn Tình vào năm 1940. Sau này, bài thuốc đã được ông Nguyễn An Định, trưởng nam của cụ Nguyễn An Ninh (nhà văn hóa, lãnh tụ nổi tiếng của phong trào yêu nước trước tháng 8 /1945) cho phổ biến trên một số tờ báo. Bài thuốc cũng đã được bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, cho phổ biến để sử dụng hữu hiệu trong đợt chống dịch sốt xuất huyết tại các tỉnh miền Bắc vào năm 1969. Cho
      đến nay, bài thuốc đơn giản này đã cứu chữa và phục hồi cho rất nhiều trường hợp hôn mê do đột quỵ, dù đã nhiều ngày trôi qua. Trong một tài liệu được phổ biến vào năm 1997, ông Định cho biết: “Các dạng hôn mê do sốt xuất huyết hoặc tai biến mạch máu não chưa quá 10 ngày, chỉ cần 3 tháng, có khi chỉ 1 tháng cũng hết bệnh”.

      Gần đây, bài thuốc sử dụng trùn đất được coi là “thần dược cứu mệnh” cho những trường hợp hôn mê và bị liệt do đột quỵ. Tác dụng của thuốc không hề thua kém, thậm chí còn hiệu nghiệm hơn viên “An cung ngưu hoàng hoàn” do tập đoàn Đông dược Đồng Minh Đường của Trung Quốc sản xuất, dựa trên bài thuốc nổi tiếng của danh y Ngô Cúc Thông, có từ thời nhà Thanh (1616 – 1911), trị giá hàng triệu đồng mỗi viên, đang được một số gia đình coi như “thần dược”, mua cất trữ như những vật bảo bối trong nhà, phòng khi bất trắc với những người cao tuổi, nhất là những người bị cao huyết áp.

      Bài thuốc sử dụng trùn đất còn được coi là "bùa hộ mệnh" cho những người đi tìm trầm, đãi vàng..., dùng để ngừa bệnh sốt rét, vàng da, ngã nước, bụng báng... chống lại sơn lam chướng khí trong điều kiện rừng sâu núi thẳm, ăn ở khó khăn, thiếu thốn. Theo ông Nguyễn An Định thì bài thuốc cổ chỉ có 3 vị thuốc: trùn đất, đậu đen và rau ngót, nhưng qua kinh nghiệm bản thân, ông có thể thêm vị thuốc thứ 4: đậu xanh. Theo GS. Hoàng Bảo Châu (Trung ương Hội Đông y Việt Nam): Trùn đất chủ trị thanh nhiệt, trấn kinh, thông kinh hoạt lạc, lợi niệu thông tâm. Tùy theo tác dụng muốn có mà phối hợp
      với Thạch cao, Câu đằng, Hạ khô thảo, Xuyên ô, Đương quy, Mộc thông...

      Mới đây, PGS - TS Nguyễn Thị Ngọc Dao cùng các cộng sự thuộc Viện Công nghệ Sinh học (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã bước đầu nghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm viên nang lumbrokinase từ trùn đất, có tác dụng làm tan cục máu đông làm nghẽn động mạch, những vết thương bị tụ máu. Việc điều trị cho các bệnh nhân bị tai biến mạch mãu não do viêm tắc và xơ vữa động mạch đã cho kết quả tốt.

      Mặc dù chưa bán ngoài thị trường, nhưng thuốc chữa xơ vữa động mạch từ trùn quế dự kiến rẻ hơn thuốc ngoại nhiều lần. Qua kiểm chứng, các nhà khoa học nhận thấy bột trùn có tác dụng tương đương các loại thuốc ngoại đang dùng phổ biến như urokina (tách chiết từ nước tiểu) và strestokina (chiết xuất từ vi khuẩn), được bào chế hết sức phức tạp, với công nghệ tối tân, nên những tân dược này rất đắt tiền. Bên cạnh đó, hai loại thuốc trên còn có tác dụng phụ ngoài mong muốn như gây táo bón, tiêu chảy, sốt …
      “Kết quả thử nghiệm cho thấy bột trùn không gây tác dụng phụ nào”.

      Trong các bài thuốc dân gian, trùn đất thường được dùng để chữa tim mạch, cao hoặc thấp huyết áp, xơ gan.., nhưng là loại trùn to màu nâu hoặc đen, hàm lượng enzyme fibrinolytic không cao. Qua nghiên cứu trên 9 loài trùn, PGS-TS Dao chú ý đến loài peryonix escavatu - tên khoa học của trùn quế. Vì loài trùn quế chứa một lượng enzyme fibrinolytic hoạt độ cao hơn các loài khác.

      Theo nghiên cứu của GS Thái Trần Bái (ĐH Sư phạm Hà Nội), trùn quế phân bố ở hầu hết các tỉnh thành nước ta. Hiện nay, PGS - TS Nguyễn Thị Ngọc Dao cùng các cộng sự đang nghiên cứu về gene học để tiến tới tạo enzyme này bằng công nghệ tái tổ hợp gene, nhằm thu được enzyme tinh khiết hơn, số lượng lớn hơn, thuận lợi cho việc làm thuốc. Tiềm năng sử dụng các chế phẩm từ trùn rất lớn, nhưng hiện nay mới sử dụng được khoảng 5% nguồn trùn nuôi và thu gom được để làm dược liệu. Việc nghiên cứu các chế phẩm trùn để chữa bệnh và làm thực phẩm bổ dưỡng vẫn cần tiếp tục được tiến
      hành…

      3.5 Nguồn thực phẩm bổ dưỡng cho con người và sản xuất mỹ phẩm
      Trùn có hàm lượng Protein cao, giàu nguyên tố vi lượng tương tự thịt thỏ - là loại thịt giàu đạm, ít chất béo. Trong trùn có tới 8 loại axit amin cần thiết cho con người. Hàm lượng vitamin B1, B2 trong trùn gấp 10 lần khô đậu tương, gấp trên 14 lần bột cá, cùng sự phong phú về Vitamin A, E, C và các vi lượng khoáng chất có lợi cho sức khỏe dinh dưỡng của con người. Vì vậy nhiều nước đã sử dụng trùn để chế biến thành thực phẩm cho con người.
       
      hongnhungsg, Nong dan CTOstar thích bài này.
      Đang tải...
    2. laonong9x_tb

      laonong9x_tb Học làm nông dân

      Bài viết:
      44
      Đã được thích:
      4
      bác cho em xin ít hình anh được ko
       
    3. Nong dan CTO

      Nong dan CTO Nông dân nghèo

      Bài viết:
      62
      Đã được thích:
      36
      Hot girl xứ sở trùn quế đã lên sàn diễn đàn... hahaaa
      "Sổ tay" của bạn, mình lưu lại tham khảo, có gì sẽ cùng thảo luận trao đổi thêm. Thx!
      Mình cũng đang tìm dịp ghé thăm những trang trại trùn ở H. Củ Chi.
       
    4. PhantrunqueSFarm

      PhantrunqueSFarm Nhà nông tập sự

      Bài viết:
      9
      Đã được thích:
      5
      Nghề nghiệp:
      Marketing
      Thanks các bác ủng hộ! Hôm trước đăng xong mà không thấy ai phản hồi cũng hơi chán.
      Để bài đăng tiếp, em cố công chèn hình ảnh cho sinh động vậy!
       
    5. Sandisk35

      Sandisk35 Học làm nông dân

      Bài viết:
      20
      Đã được thích:
      1
      Bác cho em hỏi chút ạ. Phân trâu bò ủ cho trùn ăn, làm cách nào cho bớt mùi hôi ạ?
      Thanks bác:)
       
    6. PhantrunqueSFarm

      PhantrunqueSFarm Nhà nông tập sự

      Bài viết:
      9
      Đã được thích:
      5
      Nghề nghiệp:
      Marketing
      Bên mình thu mua phân trùn từ trại của 1 số hộ nông dân ở Củ Chi, có cả nuôi tại khu riêng, có cả trại tại rừng cao su. Nên mình thấy, Phân heo thì có thể có nhiều mùi, còn phân trâu bò không có nhiều mùi đâu bạn.
      Nếu bạn nuôi gần khu dân cư, mà sợ mùi hôi làm ảnh hưởng, có thể mua thêm 1 số chế phẩm khử mùi. Nhưng như thế thì chi phí sẽ tăng lên...
       
    7. Sandisk35

      Sandisk35 Học làm nông dân

      Bài viết:
      20
      Đã được thích:
      1
      Dạ em nuôi giun bằng phân trâu. Nếu em cho ăn trực tiếp không có mùi, nhừng nếu em cho vào hố ủ thêm nước thì cũng khá hôi ạ. Em không ảnh hưởng đến dân cư ạ, nhưng phân ngâm qua nước em thấy hôi quá
      Em xin hỏi kinh kiệm thucgiun giun hiệu quả. Nếu bác chia sẻ cho anh em diễn dàn được thì tốt quá.
      Tks bác.
       
    8. PhantrunqueSFarm

      PhantrunqueSFarm Nhà nông tập sự

      Bài viết:
      9
      Đã được thích:
      5
      Nghề nghiệp:
      Marketing
      Thucgiun là sao bạn?
      --- @ 21/10/16 ---
      PHẦN III. KỸ THUẬT NUÔI TRÙN QUẾ

      1. Cách làm lán trại.
      1.1 Dựng trại trong rừng cao su

      Một lán trại trong rừng cao su khoảng 100m2 thì chi phí để hoàn thành là khoảng 18 triệu gồm tiền giống tiền vật liệu dựng trại.

      1.1.1 Vật liệu, dụng cụ

      Vật liệu gồm: Tre, bạt, dây kẽm, đinh. Hoặc có thể sử dụng một số vật liệu khác sao cho hợp lý nhất. VD: sắt, thép.

      Dụng cụ: các dụng cụ dựng trại như búa, cưa, kềm, súng bắn ghim…

      1.1.2 Tiến hành
      Chọn nơi dựng trại: trại dựng trong rừng cao su, lựa nơi cao ráo, lưu ý: không bị ngập nước vào mùa mưa.

      Trại dựng bằng tre:
      • Đầu tiên ta tiến hành dọn đất nơi dựng trại bằng cách tiến hành cuốc bỏ những cây cỏ dại lớn để thuận tiện cho việc lót bạt sau này.
      • Tiếp đến ta tiến hành san bằng mặt đất nơi lót bạt làm trại trùn để tránh việc trong lán trùn có chỗ trũng chỗ cao sẽ dễ gây đọng nước vào mùa mưa.
      • Sau đó ta tiến hành dựng trại
      • Khung trại được cất như hình bên dưới
      [​IMG]

      Hình: khung trại được dựng bằng tre

      Kích thước một ô tiêu chuẩn:
      • Thanh màu đỏ 2m lọt lòng, khi cắt thanh này ta nên chắt chừa ra mỗi đầu khoảng 5cm, nên kích thước chuẩn là 2.1m.
      • Thanh màu xanh lá từ khoảng 1.8 -2m đóng xuống đất 0.3 – 0.5m, phần nổi 1.5m
      • Khoảng cách màu vàng kích thước tùy chỉnh (thường là 2m)
      • Thanh xanh dương 2.5m
      • Thanh màu tím 0.6m, chôn xuống dưới khoảng 0.2m bên trên khoảng 0.4m
      Sau đó phủ bạt lên khung tre. Bạt được chia làm hai phần:
      • Mái che dùng bạt màu xanh là loại bạt tốt, dày để che mưa, nắng,
      • Lót nền có thể dùng bạt sọc trắng đỏ là loại bạt rẻ tiền, vì là phần ở dưới nên ít hư hỏng.
      Bạt được cố định vào khung tre bằng ghim. (Như hình dưới)
      [​IMG]
      Hình: trại đã phủ bạt
      .
      Kích thước bạt là: Bạt xanh chiều ngang 3m chiều dài theo chiều dài trại nuôi hai đầu chừa khoảng 2m để phủ xuống.
      Bạt sọc (bạt lót): chiều ngang 3m chiều dài theo chiều dài của trại nuôi.
      [​IMG]
      [​IMG]
      Nguồn: Phân trùn quế SFarm - http://sfarm.vn/
       
      Last edited: 21/10/16
    9. Sandisk35

      Sandisk35 Học làm nông dân

      Bài viết:
      20
      Đã được thích:
      1
      Dạ xin lỗi bác, em còm nhanh quá. Ý em hỏi là thu hoạch con giun nhanh và ủ phân cho bớt mùi hôi ạ :d
      Luống giun bác thiết kế thì hợp với miền nam thôi ạ. Chứ miền bắc mà nhiều bão gió như khu vực của em thì.... bay hết :(( :((
       
    10. hoangluanls

      hoangluanls Lamborghini

      Bài viết:
      503
      Đã được thích:
      136
      Nghề nghiệp:
      lam ruong
      Dùng bạt như thế này đc bao lâu thì nó mục
       
    11. PhantrunqueSFarm

      PhantrunqueSFarm Nhà nông tập sự

      Bài viết:
      9
      Đã được thích:
      5
      Nghề nghiệp:
      Marketing
      Chào bạn,
      Theo mình biết, nếu bạn nuôi giun quế với mục đích chính là lấy Phân thì nên cho ăn phân đặc, theo cục.
      Còn nếu bạn nuôi để lấy Con giun thì nên cho ăn phân loãng, tưới theo đường (khi đó mật độ giun sẽ rải đề và ít cạnh tranh thức ăn hơn).

      Trại này đúng là bên mình tham khảo và lấy hình ảnh các trại của bà con tại Củ Chi. Thời tiết miền nam ít bão, nên có thể dựng theo cách này được.
      Tại ngoài Bắc, các trại thường là xây dựng kiên cố, xây cột xi măng hoặc khung sắt, mái tôn/ bờ-rô xi măng. Diện tích thì tùy điều kiện và quy hoạch của từng trại.
      Tuy nhiên, khi nuôi trùn tại miền Bắc, bạn nên lưu ý vấn đề chắn gió/giữ ấm cho giùn vào mùa đông. Nếu lạnh quá giun có thể chết.
      --- @ 28/10/16 ---
      Bạt này, với điều kiện thời tiết miền nam, trại xây dựng trong rừng cao su, thì có thể được 1 năm rưỡi đến 2 năm nhé b.
      --- @ 28/10/16 ---
      Một số hình ảnh tư liệu trại nuôi giun/trùn quế tại miền Bắc

      [​IMG]
      [​IMG] [​IMG] [​IMG]
       
      Sandisk35 thích bài này.

    Chia sẻ trang này

    Đang tải...
    Đang tải...