• Vài đặc điểm của loài cá

    Thảo luận trong 'Cá cảnh' , 2/9/08

    1. Một vài đặc điểm sinh thái của 5 loài cá: Cá lóc đầu vuông lai, cá rô đồng, lươn, cá thát lát cườm và cá sặc rằn
      Cả 5 loài cá trên đều sống tốt ở môi trường nước ngọt trong nội đồng, cũng có thể sống ở vùng nước lợ độ mặn vài phần ngàn. Vùng đất trồng lúa được đều có thể nuôi các loài cá nầy. Tuy nhiên cá thích sống tại vùng có chất đất là đất thịt hoặc đất thịt pha cát.
      Ở giai đoạn cá giống chủ yếu tăng trưởng về chiều dài. Thức ăn thích hợp của chúng là động thực vật nổi, chất hữu cơ lơ lững trong ao. Đến giai đoạn ăn được thức ăn của loài, nếu cung cấp thức ăn đủ lượng và chất, chúng tăng nhanh về trọng lượng. Sống trong môi trường ao nuôi, thời gian cá chuyển tính ăn sớm hơn so với sống ngoài tự nhiên. Nhìn chung, các loài cá trên khi ăn được thức ăn của loài đều có thể sử dụng tốt thức ăn tinh do con người cung cấp.
      Thức ăn của các loài cá lóc, rô đồng, thát lát và lươn chủ yếu là động vật, như: cá tép, cua ốc, phụ phế phẩm. Tuy nhiên, nuôi trong ao, chúng có thể sử dụng thức ăn chế biến, tấm cám, rau củ quả, động vật sống ở tầng đáy, động thực vật nổi, côn trùng ... . Riêng cá sặc rằn con, do kích cỡ miệng nhỏ nên rất kén chọn loại thức ăn, chúng thích ăn những loại thức ăn tự nhiên vừa với cỡ miệng như luân trùng, động vật nguyên sinh ...
      Cá lóc và lươn hầu như không bắt mồi khi tiết trời lạnh. Cá thát lát, cá rô đồng và cá sặc rằn rất nhạy cảm với môi trường nước nhiệt độ thấp, nên rất dễ bị nhiễm bệnh ký sinh.
      Đa số các loài cá trên đều có tập tính thích ăn mồi động vật nên nước rất mau bị dơ, làm cho các loại nấm, ký sinh trùng phát triển và gây bệnh.
      Cá lóc, cá rô đồng, cá sặc rằn, cá thát lát cườm và lươn đều có cơ quan hô hấp phụ nên có thể thả nuôi với mật độ cao hơn gấp vài lần so với các loài cá khác.
      Cả 5 loài cá trên đều sinh sản tự nhiên được trong ao nuôi và có tập tính bảo vệ tổ, bảo vệ cá con. Thời gian dinh dưỡng bằng noãn hoàng sau khi nở trứng chỉ khoảng 2 ngày.
      Một vài kinh nghiệm kỹ thuật nuôi cá lóc đầu vuông lai, cá rô đồng, lươn, cá thát lát cườm và cá sặc rằn trong ao
      1. Biện pháp chung
      - Cần lựa chọn địa điểm, thiết kế mô hình và xác định quy mô thả nuôi phù hợp với khả năng đầu tư chăm sóc.
      - Dựa trên đặc điểm sinh thái của từng loài để áp dụng thả nuôi theo từng quy trình cụ thể. Ví dụ: Lươn thích sống chui rúc thì cần tạo chỗ trú ngụ, như gò đất, ống nứa ... và không nuôi trong ao sâu rộng sẽ khó khăn cho bảo quản và thu hoạch. Cá sặc rằn thích ăn sinh vật phù du, cần thiết bón phân gây màu nước để luôn tạo nguồn thức ăn phù hợp.
      - Độ sâu ao nuôi khoảng từ 1,5 mét đến 2,5 mét, tùy từng loài. Không đào ao sâu quá 3 mét, vì lớp nước dưới sâu có nhiệt độ thấp, lượng oxy hoà tan thấp, chất thải của cá và của sinh vật lắng đọng xuống lớp đáy sâu ít có điều kiện thoát ra ngoài khi thay nước ao, điều nầy ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn thức ăn tự nhiên trong ao. Cũng không nên đào ao cạn quá dưới 1 mét, sẽ không kinh tế, mặt khác, ánh nắng mặt trời thiêu đốt tầng mặt ao vào ban ngày làm nhiệt độ nước tăng cao, ban đêm bị lạnh đi nhanh chóng, cá thường xuyên bị sốc sẽ sinh trưởng kém.
      - Nếu là ao cũ, vét đi lớp bùn càng nhiều càng tốt, phơi đáy ao và bón vôi với liều lượng 10-15 kg/100m2 ao. Nếu ao mới đào, lượng vôi bón khoảng 20-30 kg/100m2 ao, tùy vào vùng đất thịt hay đất thịt pha sét. Nếu cần bón phân chuồng để tạo động thực vật nổi cho ao thì liều lượng sử dụng khoảng 20 kg/100m2.
      - Việc giữ cho ao nuôi sạch, thông thoáng và không có chất gây độc sẽ giúp tăng hàm lượng thức ăn tự nhiên, yếu tố nầy vô cùng quan trọng đối với giai đoạn cá con. Ngoài ra, việc quản lý tốt chất lượng nước ao nuôi cũng có tác dụng tạo được nguồn oxy hoà tan và độ pH phù hợp cho sinh trưởng của cá.
      - Trước khi thả cá giống ra ao, ngoài việc đặt túi chứa cá vào ao nuôi cho đến khi cân bằng nhiệt độ, cần phải rải muối ăn vào khu vực thả cá, liều lượng 2 kg/100 m3 nước ao. Mục đích của việc làm nầy là bổ sung lượng muối mà cá đã bị mất đi trong quá trình vận chuyển.
      - Áp dụng phương pháp cho ăn theo nguyên tắc “4 định”: Định chất lượng thức ăn, định số lượng thức ăn, định vị trí để cho ăn và định thời gian cho ăn.
      - Quản lý tốt các yếu tố thủy lý hoá để tạo môi trường sống thuận lợi cho cá nuôi, nhất là quản lý độ trong phù hợp, khoảng 30-40cm. Độ trong nước ao được đánh giá qua sự phát triển của sinh vật phù du. Ao có độ trong thấp quá thường là do tảo phát triển dày, gây chết nhiều loài động vật phù du, dẫn đến độ phèn và lượng oxy hoà tan giảm thấp, gây sốc cá. Thường màu nước ao giống như màu lá chuối non là tốt. Thường xuyên xử lý ao bằng các chế phẩm vi sinh, bón phân gây nuôi sinh vật phù du ở giai đoạn đầu thả cá con, thường xuyên dùng vôi để ổn định độ pH, thay cấp nước mới kịp thời ... là một trong nhiều biện pháp điều khiển sự phát triển thích hợp của tảo phù du.


       

      Bài viết liên quan
      Đang tải...
    2. Cá cảnh có rất nhiều. Trong tự nhiên,cá rất đa dạng và phong phú. Hiện nước ta đang lâm vào tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên này, do đó chúng ta cần phải có những biện pháp cấp bách để bảo vệ nguồn tài nguyên vô tận này!