Thủy canh toàn tập - Vì sao chúng ta phải khổ?

Dạo một vòng youtube để coi các video nông nghiệp, thấy một số kênh rất hay. Tiếp đó, vào một vài video chuyên về thủy canh, ồ thì cũng rất hay, nhưng coi kỹ, thì thấy ngay cả mấy ông kỹ sư tư vấn thủy canh cũng mắc phải những lỗi về kiến thức cơ bản, từ đó tư vấn bậy, nhưng nhiều người coi cái video đó vẫn cho là đang tư vấn đúng, nhưng cái đúng đó chỉ do bản thân họ tự cho là đúng thôi, và rồi khi người này truyền lại "kiến thức" cho người kia, người kia truyền lại kiến thức cho người nọ, nó (cái sai ban đầu) sẽ ăn dần vô đầu của những người chưa biết/ không biết về vấn đề đó. Cuối cùng, khi kéo xuống coi phần comment của những video đó, thì thật sự rất buồn, khi có rất nhiều bình luận kiểu như "dm, pha trồng bằng hóa chất mà an toàn cái *** gì", "rau ăn lạt nhách, thà tự trồng ...", và tai hại hơn nữa khi những comment này nhận được khá nhiều like, hay kiểu như ngầm công nhận người được like này là đúng. Thưa các bạn, rau quả hay bất kỳ nông sản nào đi nữa có an toàn hay không là do người làm ra sản phẩm đó, chứ đừng chăm chăm đổ lỗi cho những thứ vô tri vô giác như phân bón, hóa chất. Do đó, đi tới kết luận cuối cùng, đó là do dân trí chưa cao, biết một phán mười, nhưng đa phần phán bậy kiểu "xem mặt mà bắt hình dong".
images2072002_1.JPG

Tôi là một thằng không có ăn học đàng hoàng, học tới năm tư thì nghỉ ngang vì lười, và nay mới thấm thía cái lười đó, nên giờ phải cày cuốc ngu mặt để bù đắp cho cái quá khứ của mình. Nhưng cũng chính vì vậy mà tôi bén duyên với nông nghiệp, và từng nhiều lần sấp mặt vì làm nông kiểu "cứ nhảy vào làm rồi tự đúc kết kinh nghiệm""như mấy cha nội hay xúi. Sau cùng tôi mới tỉnh ngộ rằng, làm nông thì phải biết một số kiến thức cơ bản, rồi từ cái cơ bản đó mới có thể hiểu thêm lên được. Cũng may, cái cơ bản đó nó liên quan tới hóa học, mình ít ra còn sót lại dăm ba chữ trong đầu, vậy nên mò mò trên mạng được vài cái tài liệu, thấy hay quá thì chơi luôn. Cái khổ là tài liệu nó toàn tiếng Anh mà mình thì dốt tiếng Anh quá, nên đọc hoài đọc mãi mất cả nửa năm mới xong bí kíp. Và nay khi đã thành công xuống núi, tôi quyết định dùng mấy cái bí kíp kia để khai dân trí, dù rằng nó đã hơi trễ. Tôi sẽ bắt đầu với thủy canh, và mong ai đó rành rọt chỉ ra những điểm thiếu sót để có được bài viết hoàn thiện hơn. Tiện đây tôi cũng xin lỗi bạn handuong1991 trong topic "Hỏi cách trồng nấm mối" vì lúc đó tôi đúng là thiếu hiểu biết.
Sách tham khảo chủ yếu: Hydroponic Food Production A Definitive Guidebook (7e) - Howard M. Resh, có thể tìm thấy trên mạng hoặc một số diễn đàn nông nghiệp khác.

A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Các bạn khổ vì thủy canh chính là vì không chịu tìm hiểu cái cơ bản này.
A.1. CHUYỂN ĐỔI MỘT SỐ ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG
Như đã nói, muốn làm nông nghiệp, dù là thủy canh, thổ canh hay aquaponics, thì nếu không nắm vững cái cơ bản thì các bạn sẽ không bao giờ thành công được. Đây có một số đơn vị hay dùng trong thủy canh cần phải nắm, nhất là những ai tham khảo tài liệu nước ngoài:
_ Inch (in.), 1 in. = 2.54 cm, dùng đo chiều dài.
_ Feet (ft), 1 ft = 30 cm, dùng đo chiều dài.
_ Pound (lb), 1 lb = 0.45 kg, dùng đo khối lượng.
_ Ounce (oz), 1 oz = 28 g, dùng đo khối lượng.
_ Teaspoon (tsp), 1tsp = 5 mL, dùng đo thể tích.
_ Tablespoon (tbsp), 1tbsp = 15 mL, dùng đo thể tích.
_ Gallon (gal), 1 gal = 3.785L, dùng đo thể tích.
_ Cup (cốc, ly), 1 cup = 0.24L, dùng đo thể tích.
A.2. MỘT SỐ NGUYÊN TỐ HÓA HỌC CẦN THIẾT CHO CÂY TRỒNG THỦY CANH
Cây trồng có thể cần tới xấp xỉ 20 nguyên tố mới tạm gọi là đầy đủ nhằm tổng hợp nên những hợp chất quan trọng, trong đó có những loại hợp chất góp phần quyết định nên mùi và vị của sản phẩm sau cùng, nhưng trong thủy canh, chỉ cần khoảng 16 nguyên tố chủ yếu. Đây có lẽ là lý do mà nhiều người hay nói rau thủy canh có mùi vị không bằng so với rau truyền thống (thổ canh). Nhưng như một tác giả sách thủy canh đã nhận định rằng, con người không thể chỉ ăn rau quả không mà sống, cho nên những nguyên tố mà cây trồng thủy canh thiếu có thể được bổ sung từ nguồn thức ăn khác, do đó nếu cây thủy canh được chăm sóc tốt, hàm lượng dinh dưỡng của nó vẫn không quá chênh lệch so với các loại rau khác. Sau đây là một số nguyên tố quan trọng, tạm chia thành hai nhóm là đa lượng (cây cần nhiều) và vi lượng (cây cần ít):
+ Nguyên tố đa lượng:
Hydrogen (H); Carbon (C); Oxygen (O): là ba nguyên tố có thể được cây hấp thụ ở dạng phân tử hóa học như H2O, O2, CO2. Các nguyên tố khác được cây hấp thụ ở dạng ion, trong nước, gọi là dung dịch dinh dưỡng hay dung dịch thủy canh, sẽ đề cập sau. Thay vì viết kiểu hyđro, oxy, cacbon, thì ở đây sẽ viết tên của chúng như trên, vì khi mua hóa chất/ phân bón, thường nhãn của chúng sẽ không ghi tên kiểu Việt Nam ta.
Nitrogen (N): NO3(-), NH4(+); còn gọi là nitơ
Potassium/ Kalium (K): K(+); còn gọi là kali
Calcium (Ca): Ca(2+); còn gọi là canxi
Magnesium (Mg): Mg(2+); còn gọi là ma nhê hay ma giê
Phosphorus (P): H2PO4(-), HPO4(2-); còn gọi là phốt pho
Sulfur (S): SO4(2-); còn gọi là lưu huỳnh
+ Nguyên tố vi lượng:
Chlorine (Cl): Cl(-); còn gọi là clo
Iron/ Ferrous (Fe): thường đi vào cây ở dạng Fe(2+), ít khi ở dạng Fe(3+); còn gọi là sắt
Manganese (Mn): Mn(2+); còn gọi là mangan
Boron (B): đi vào cây ở dạng BO3(3-) hoặc B4O7(2-); còn gọi là bo
Zinc (Zn): Zn(2+); còn gọi là kẽm
Copper (Cu): đi vào cây ở dạng Cu(2+), ít khi ở dạng Cu(+); còn gọi là đồng
Molybdenum (Mo): MoO4(2-); còn gọi là molipden. Mo trong thủy canh thường lấy từ muối Na2MoO4, Na thường gây ngộ độc cho cây, nhưng là vì tồn tại cùng với vi lượng Mo nên quá nhỏ, có thể xem là vô hại. Na là viết tắt của sodium/ natrium/ natri (tên Việt Nam).
A.3. NGUYÊN TỬ VÀ KHỐI LƯỢNG NGUYÊN TỬ, KHỐI LƯỢNG PHÂN TỬ
Định nghĩa của mấy thứ này có thể tham khảo thêm trên mạng hay trong sách hóa học, dùng để tính toán khi pha dung dịch thủy canh. Ở đây sẽ có số liệu gần đúng và số liệu làm tròn (để trong ngoặc), nếu làm thủy canh chơi chơi để phục vụ gia đình, thì có thể dùng số liệu làm tròn, nhưng nếu làm thủy canh cỡ vừa và lớn, nên dùng số liệu gần đúng mới chính xác, vì nếu dùng số liệu làm tròn thì sai số sau khi pha dung dịch, nhất là dung dịch mẹ sẽ rất lớn.
Al - 26.98 (27); B - 10.81 (11); C - 12.01 (12); Ca - 40.08 (40); Cl - 35.45 (35.5); Cu - 63.54 (64); Fe - 55.85 (56); H - 1.008 (1); Mg - 24.31 (24); Mn - 54.94 (55); Mo - 95.94 (96); N - 14.01 (14); Na - 22.99 (23); O - 16.00 (16); P - 30.97 (31); K - 39.10 (39); S - 32.06 (32); Si - 28.09 (28).


Vì còn công việc nên chỉ có thời gian rảnh thì tôi mới có thể viết tiếp, có thể là ngày hôm sau, cũng có thể một tháng sau, hoặc tệ hơn có thể chỉ được một khúc trên thôi, mong các bạn thông cảm. Và bạn nào còn thắc mắc vì sao viết dài dòng thì như tôi nói trên đó, các bạn nên đi tuần tự chứ đừng có vội vàng.

Phần 2a: Thủy canh toàn tập - Vì sao chúng ta phải khổ?
Phần 2b: Thủy canh toàn tập - Vì sao chúng ta phải khổ?
 

Last edited:

Bình luận

lethanhan
#2
Bai viet hay.!
Tôi tán thành quan điểm phải có nền tảng cơ bản, mà muốn biết phải học từ các nguồn và thực tế.
Đọc sách, tàii liệu, xem clip và đi thực tế quan sát.... Là cách mà tôi đã thành công. Còn tiếng Anh hay tiếng gì thực ra không quan trong, Hơn nhau ở sự tư duy hay nhà Phật gọi là " QUÁN CHIẾU".
Còn kĩ sư hay gì thật sự có là gì đâu. Ngườii ta phát ngôn vì quyền lợi cá nhân chứ không phải họ không biết đâu "tác giả". Ahihi. Chúc Thành công.!
 
Last edited:
chipzanut
#4
tôi đồng ý. Bây giờ không biết đâu mà lần. Tôi có người anh trai làm trang trại thủy canh ở Yên Bái cũng thuê mấy ông kỹ sư làm còn sửa đi sửa lại huống hồ trên mạng
 
EbooksHunter
#5
Cám ơn các anh đã tham gia cho xôm tụ, sau đây xin tiếp bài thủy canh.
B. DINH DƯỠNG THỰC VẬT
B.1. SƠ LƯỢC
Dinh dưỡng thực vật hay còn gọi là sự nghiên cứu về chức năng của các nguyên tố dinh dưỡng trong cây trồng, sự hấp thụ nước và dinh dưỡng ở cây trồng.
Trong tự nhiên, có rất nhiều nguyên tố mà cây trồng có thể hấp thụ được, kể cả các nguyên tố mà ta hay gọi là độc hại, nếu như tồn tại một lượng ở mức giới hạn trong cây, chúng vẫn có một chức năng nhất định nào đó, chẳng hạn như Pb, As, Hg, ... Tuy nhiên, trong thủy canh, việc kiểm soát các nguyên tố này rất khó, nên người ta chỉ gói gọn lại còn khoảng 16 nguyên tố như đã kể trên, gọi là các nguyên tố dinh dưỡng chủ đạo, nghĩa là trong suốt quá trình sống của cây, ta cần phải cung cấp liên tục các nguyên tố này để đảm bảo cây trồng phát triển khỏe mạnh, bất kể là trồng theo hình thức nào đi nữa.
Thủy canh ra đời từ giữa thế kỷ 17, ban đầu nó rất sơ sài vì lúc đó hóa học mới chỉ là sơ khai, nên dung dịch dinh dưỡng thời kỳ đó chỉ gồm một vài muối khoáng hòa tan, và dĩ nhiên cây không phát triển tốt được. Dần về sau, khi công nghệ sinh học được áp dụng trong nông nghiệp, người nghiên cứu về thủy canh biết về phân tích mô thực vật, từ đó biết được những nguyên tố còn thiếu và tiến hành các thí nghiệm bổ sung vào dung dịch thủy canh dưới dạng các muối khoáng hòa tan, và từ đó tới nay, thủy canh đang ngày càng phát triển, việc sau này các tài liệu thủy canh có bổ sung thêm các loại hóa chất khác hay không thì chúng ta hãy đợi đến lúc đó sẽ rõ. Vì vậy, một ngành khoa học được người ta nghiên cứu trong một thời gian dài đằng đẳng mà về tới Việt Nam ta, nhiều người ngay cả không ít kẻ có học thức cao phủ nhận phát một, thì rất đáng phải xem lại, và đây tôi cũng nhắc lại luôn, nông sản an toàn hay không là do người tạo ra nông sản đó, đừng cố tìm cách đổ lỗi cho những thứ vô tri nữa.
B.2. CHỨC NĂNG CỦA CÁC NGUYÊN TỐ DINH DƯỠNG ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG
Như đã nói, trong thủy canh tạm chỉ chia thành hai nhóm nguyên tố đa lượng và vi lượng, và các nguyên tố vi lượng dù cây cần rất ít, nhưng chúng đóng vai trò quan trọng không hề kém so với các nguyên tố đa lượng. Vì nếu trình bày hết sẽ rất dài dòng, nên ở đây nếu muốn có thể học thuộc lòng như sau:
+ Carbon (C), Hydrogen (H), Oxygen (O): ai học hóa học hữu cơ đều quá quen thuộc với những nguyên tố này, tất cả các hợp chất hữu cơ đều có chứa liên kết C-H, và trong cây trồng thì O cũng chắc chắn là một thành phần không thể thiếu, thông qua sự hấp thụ H2O, CO2, O2 và tổng hợp nên các hợp chất hữu cơ của cây trồng.
+ Nitrogen (N): là nguyên tố phổ biến sau ba nguyên tố C, H, O trong cây trồng, là thành phần của các hợp chất hữu cơ cần thiết trong cây trồng như amino acid, protein, chất diệp lục, ...
+ Phosphorus (P): thành phần quan trọng của nhiều hợp chất hữu cơ như ATP, nucleic acid, đường phosphate, một số coenzyme.
+ Potassium (K): K không tham gia vào việc cấu tạo các thành phần hữu cơ trong cây trồng, mà tồn tại trong phần dịch lỏng của cây trồng, có tác dụng kích hoạt các enzyme - cần cho việc tổng hợp các protein.
+ Sulfur (S): thành phần của các amino acid, protein, vitamin, ...
+ Magnesium (Mg): thành phần quan trọng nhất của các phân tử chất diệp lục, tham gia kích hoạt nhiều loại enzyme tương tự như K, là thành phần rất cần thiết cho các ribosome.
+ Calcium (Ca): thành phần quan trọng nhất của màng tế bào. Những loại trái cây nhà kính như cà chua, ớt chuông bị nứt hay thối ở đáy trái thường liên quan chủ yếu tới sự thiếu hụt Ca.
+ Iron (Fe): tham gia quá trình tổng hợp chất diệp lục, cần thiết cho các quá trình quang hợp, hô hấp ở cây, kích hoạt một số enzyme.
+ Chlorine (Cl): cần thiết cho quá trình quang hợp.
+ Manganese (Mn): tham gia quá trình tạo chất diệp lục, kich hoạt một số enzyme giúp cho quá trình tổng hợp các acid béo hay quá trình tạo DNA, RNA.
+ Boron (B): có nhiều chức năng chưa biết, quan trọng nhất là giúp vận chuyển carbohydrate trong cây trồng. Trong quá trình tăng trưởng (tăng về kích thước của cây), thì lá cây thông qua quang hợp sẽ tạo và tích trữ carbohydrate, nếu như là cây ăn trái, thì khi tới giai đoạn sinh sản (ra hoa kết trái), carbohydrate sẽ được huy động cho trái, cho nên những cây quá ít lá thì trái sau này dễ bị ảnh hưởng theo.
+ Zinc (Zn): xúc tác các phản ứng khử alcohol, lactic acid, glutamic acid.
+ Copper (Cu), Molybdenum (Mo): hoạt động như chất mang điện tử trong quá trình khử nitrate thành ammonium [NH4(+)], tham gia quá trình cố định đạm, ...
B. 3. SỰ HẤP THỤ DINH DƯỠNG Ở THỰC VẬT
B. 3. 1. TRONG ĐẤT

Trong đất thường tồn tại pha rắn (các hạt đất, đa số là hạt keo đất) và pha lỏng (dung dịch đất). Các hạt rắn thường tạo các liên kết phức tạp chủ yếu với các ion dương (cation) như Ca(2+), K(+), Mg(2+), H(+), do đó còn gọi là nơi bẫy các ion dương này, trong khi đó dung dịch đất giữ đa phần các ion âm (anion) như SO4(2-), NO3(-), HPO4(2-), ... Giữa các hạt đất và dung dịch đất thường xuyên xảy ra trao đổi cation, và các lông hút ở rễ cây lấy dinh dưỡng qua sự tiếp xúc với hạt đất và dung dịch đất này.
B.3.2. TRONG DUNG DỊCH THỦY CANH
Đơn giản hơn vì trong thủy canh, rễ tiếp xúc trực tiếp với pha lỏng chứa cả cation và anion nên sự hấp thụ dinh dưỡng nhanh hơn nhiều so với trong đất, nên cây thủy canh thường phát triển nhanh hơn cây thổ canh.
B.3.2. TRONG NƯỚC NUÔI CÁ (AQUAPONIC)
Nước nuôi cá thường sẽ chứa thức ăn thừa, phân cá, nước tiểu cá, và những loại chất thải này sẽ được vi khuẩn khoáng hóa và vi khuẩn nitrate hóa chuyển đổi thành dinh dưỡng cho cây trồng, tất nhiên dinh dưỡng đó cũng là những thành phần ion tương tự như trên.

Như vậy, tới đây thì tôi trích một câu của ông tác giả sách thủy canh, đại khái là như vầy: "Dù trồng theo hình thức nào đi nữa, thì cách thức cây lấy dinh dưỡng là như nhau, và dùng những loại dinh dưỡng vô cơ đó cùng với nước, oxygen và CO2 để tổng hợp nên một cấu trúc sống với những hợp chất hữu cơ chứa trong nó".


Phần B này còn một đoạn nữa về sự hấp thụ nước và dinh dưỡng ở cây trồng, tôi sẽ trình bày sau. Tạm biệt!
 
Last edited:
EbooksHunter
#6
B.4. SỰ HẤP THỤ NƯỚC VÀ DINH DƯỠNG QUA MÀNG TẾ BÀO
Màng tế bào rễ cây có cấu trúc như một màng bán thấm, ở đó nước và các ion dinh dưỡng di chuyển qua hai bên màng theo những cơ chế nhất định. Động lực gây ra sự di chuyển của các hạt (nước, ion) là do sự khác biệt về nồng độ và điện tích của các hạt ở hai bên màng bán thấm. Nước di chuyển qua màng tế bào theo cơ chế thẩm thấu, nghĩa là đi từ nơi có nồng độ các ion thấp hơn tới nơi có nồng độ các ion cao hơn. Các ion dinh dưỡng di chuyển theo cơ chế khuếch tán, nghĩa là đi từ nơi có nồng độ các ion cao hơn tới nơi có nồng độ các ion thấp hơn. Quá trình vận chuyển nước theo cơ chế thẩm thấu và các ion dinh dưỡng theo cơ chế khuếch tán là các quá trình thụ động, nghĩa là cây trồng không cần tốn năng lượng trong quá trình hấp thụ này, gọi là gradient nồng độ.
Ngoài di chuyển theo sự chênh lệch về nồng độ, thì các ion cũng có thể di chuyển theo sự chênh lệch về điện tích, chẳng hạn quá trình hấp thụ chủ động ngược chiều gradient nồng độ, ở đó các chất sẽ đi từ nơi có nồng độ ion thấp tới nơi có nồng độ ion cao, và do đó cây phải tiêu tốn năng lượng cho quá trình này. Ví dụ cây có thể phát tín hiệu cho rễ hấp thụ chủ động một số cation như K(+), Ca(2+) để dự trữ, và khi trong cấu trúc cây dư thừa các cation, cây có thể nhả ra một cation khác vào dung dịch dinh dưỡng quanh vùng rễ để tạo cân bằng điện tích, ví dụ như ion H(+), làm pH của dung dịch quanh vùng rễ giảm; hoặc cây có thể huy động các cation này tới những nơi khác tích nhiều điện âm trong các tế bào để đạt sự cân bằng.
Mặc dù được hấp thụ với hai cơ chế khác nhau, nhưng cả nước và các ion dinh dưỡng không được hấp thụ một cách độc lập, chẳng hạn trong quá trình hấp thụ nước, các ion cũng có thể theo dòng nước đi vào cây trồng. Dung dịch dinh dưỡng có nồng độ càng cao, các ion càng dễ được hấp thụ qua các lỗ trên màng tế bào rễ, đồng thời cây hấp thụ nước ít lại; dung dịch dinh dưỡng quá loãng, cây sẽ hấp thụ nhiều nước hơn và ít ion dinh dưỡng hơn, cho nên cần đảm bảo hấp thụ đều nước và dinh dưỡng ở cây trồng thông qua đo EC/ tDS của dung dịch dinh dưỡng.
B.4.1. SỰ DỊCH CHUYỂN CỦA NƯỚC QUA RỄ CÂY
Như đã nói, nước di chuyển từ nơi có mật độ các ion thấp hơn qua màng tế bào rễ tới nơi có mật độ ion cao hơn cho tới khi đạt sự cân bằng, tức là phía ngoài dung dịch quanh vùng rễ và bên trong rễ có nồng độ bằng nhau.
76769626_1945965382216586_4791965617114578944_o.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGp4S5BAhRkEZ2kdLVJD4Dy0Zxwd3c-uBilRzmUSiqwOIUkYr0PqwoqIc3VfQkxEFe19b2E1N_0dYu4jfhiYm-KAC5zZqSgaQUx1iaSIsAM9g&_nc_ohc=gDLq2Q_8ufsAQln-b4Ae7ak3ckqcetPKG9gM2_oDyjn1Om43e_Ki9oj4Q&_nc_ht=scontent.fsgn2-1.fna&oh=18e05b14ca26e5c77ed6be963af1817d&oe=5E43633A

Trạng thái chưa cân bằng (bên trái) và trạng thái cân bằng (bên phải)
Với cây thủy canh, sự phân bố nước không đều có thể gây nên một số vấn đề ảnh hưởng tới cây trồng, chẳng hạn khi pha dung dịch dinh dưỡng có nồng độ ion quá cao so với nồng độ ion bên trong rễ cây, thì nước từ trong rễ cây thẩm thấu ra ngoài dung dịch dinh dưỡng quanh vùng rễ, làm cây bị mất nước, hay còn gọi là cháy cây. Ngược lại, dung dịch dinh dưỡng quá loãng, hoặc dung dịch dinh dưỡng sau một thời gian dài được sử dụng, thì nước đi vào rễ cây nhiều hơn, làm cây bị trương nước, chất lượng sau thu hoạch kém đi.
B.4.2. SỰ HẤP THỤ DINH DƯỠNG Ở CÂY TRỒNG
Các ion di chuyển theo cơ chế khuếch tán, nên khi pha dung dịch đúng, thì nồng độ các ion trong dung dịch dinh dưỡng thường cao hơn trong rễ cây, và các ion được hấp thụ. Các lỗ rễ phân bố hầu như khắp nơi trên bề mặt rễ cây, khi cây phát tín hiệu tới các lỗ rễ, các ion tùy theo kích thước sẽ đi qua các lỗ rễ tương ứng, trừ các ion Ca(2+) thường chỉ được hấp thụ bởi các lỗ rễ nằm ở chóp rễ. Giá trị pH của dung dịch dinh dưỡng quá cao hay quá thấp cũng gây ảnh hưởng tới khả năng hấp thụ dinh dưỡng ở cây trồng. Ngưỡng pH thích hợp cho cây thường nằm từ 6.0-7.0.
Ngoài di chuyển theo dòng nước qua các mô mạch đi phân tán trong cây trồng, các ion dinh dưỡng còn có thể di chuyển qua lại giữa các tế bào thực vật. Mô gỗ chủ yếu vận chuyển nước, các mô mạch cũng tham gia vận chuyển cả nước, dinh dưỡng và các sản phẩm hữu cơ từ quá trình quang hợp đi phân bố khắp nơi trong cây trồng.
LƯU Ý: khi các bạn khuấy một ly nước đường rồi để một thời gian và uống, các bạn sẽ thấy lớp nước đường trên cùng không ngọt bằng lớp nước đường ở đáy ly. Thủy canh cũng vậy, cây trồng thủy canh lấy dinh dưỡng trực tiếp từ dung dịch dinh dưỡng quanh vùng rễ, đồng thời thông qua các quá trình dịch chuyển của các ion qua lại màng tế bào rễ thì nồng độ dinh dưỡng và giá trị pH của dung dịch dinh dưỡng quanh vùng rễ sẽ luôn luôn khác với dung dịch dinh dưỡng đầu vào, mặc dù tồn tại chung với nhau (đối với thủy canh tuần hoàn/ thủy canh đóng/ thủy canh hồi lưu); hoặc có sai khác khá lớn giữa dung dịch dư thừa (chứa riêng) và dung dịch đầu vào (với thủy canh không tuần hoàn/ thủy canh mở/ thủy canh không hồi lưu). Do đó phải quản lý tốt và hợp lý đối với dung dịch dinh dưỡng, nhất là phải kiểm tra dung dịch quanh vùng rễ cây thường xuyên để đảm bảo cân bằng hấp thụ chất ở cây trồng. Có thể tăng nồng độ các nguyên tố nào mà cây hấp thụ chậm nhất (Ca, Mg, S) nhằm tránh để cây bị "đói dinh dưỡng", nghĩa là khi cây đói dinh dưỡng, rễ sẽ hấp thụ những nguyên tố dễ hấp thụ nhất, dẫn tới bị ngộ độc; hoặc có thể chọn cách khác là giảm nồng độ các loại nguyên tố mà cây dễ hấy thụ nhất, chẳng hạn N ở dạng NH4(+).
Thứ tự hấp thụ dinh dưỡng ở cây trồng:
_ Nhanh nhất: N [dạng NH4(+)].
_ Rất nhanh: P.
_ Nhanh: K, Mn.
_ Vừa phải: N [NO3(-)], Fe, Zn, Cu, B, Mo.
_ Chậm: Ca, Mg, S.
Từ đó có thể thấy trong dung dịch dinh dưỡng quanh vùng rễ, những loại nguyên tố mà cây chậm hấp thụ thường có nồng độ cao hơn so với dung dịch dinh dưỡng đầu vào, ngoài ra pH của dung dịch dinh dưỡng quanh vùng rễ cũng khác so với pH của dung dịch dinh dưỡng đầu vào, chẳng hạn dung dịch quanh vùng rễ có pH trên 7.0, trong khi pH của dung dịch đầu vào chỉ khoảng 6.0.
B.5. NGUYÊN TỐ DINH DƯỠNG LINH ĐỘNG, NGUYÊN TỐ DINH DƯỠNG CỐ ĐỊNH
Khi được hấp thụ, các nguyên tố dinh dưỡng được vận chuyển đi khác nhau. Có nguyên tố được hấp thụ và tồn tại nhiều ở nơi này trong cây trồng, và khi nơi khác trong cây trồng thiếu, chúng được huy động tới nơi khác đó, gọi là nguyên tố dinh dưỡng linh động. Ngược lại là nguyên tố dinh dưỡng cố định, nghĩa là khi một nơi khác bị thiếu, chúng không thể được huy động tới nơi bị thiếu đó để bù đắp. Trong quá trình phát triển của cây, lá ra trước tạm gọi là lá già hay lá nhiều tuổi hơn, lá ra sau gọi là lá non hay lá ít tuổi hơn. Khi lá non bị thiếu dinh dưỡng, thì các nguyên tố linh động trong lá già được huy động tới để bù đắp, và do đó nếu cây có biểu hiện thiếu chất, thường sẽ biểu hiện trên lá già trước; ngược lại khi lá non thiếu dinh dưỡng là các nguyên tố cố định, thì các nguyên tố này vẫn bị khóa trong lá già mà không cách nào được vận chuyển tới lá non, do đó biểu hiện thiếu chất sẽ xảy ra trên lá non trước. Dựa vào các nghiên cứu, các nguyên tố được chia ra như sau:
_ Nguyên tố linh động: N, P, K, Mg, Zn.
_ Nguyên tố cố định: Ca, S, Fe, Cu, B, Mn.
Cách xác định thiếu (hoặc dư) chất ở cây trồng chỉ là tương đối, vì một số biểu hiện thiếu chất ở nguyên tố này có thể rất giống so với việc thiếu nguyên tố khác, nên cách tốt nhất vẫn là bổ sung dinh dưỡng đầy đủ và liên tục trong quá trình sống của cây.
Khi một nguyên tố bị thiếu hụt, nó có thể kéo theo sự thiếu hụt của một nguyên tố khác ở cây trồng, chẳng hạn như thiếu B thường đi kèm với thiếu Cu, thiếu Ca có thể kéo theo thiếu K, do đó một số người trồng thủy canh có thể xen canh một số loại cây khác vào cây trồng chủ lực để đánh giá và có biện pháp khắc phục thiếu chất ở cây chủ lực đó, ví dụ khi trồng cà chua, có thể xen canh một số thảo mộc/ dưa leo/ rau diếp; dưa leo rất nhạy cảm với B và Ca, nên có thể dựa vào đó để điều chỉnh dinh dưỡng cho phù hợp. Rối loạn dinh dưỡng cần phải khắc phục ngay khi xuất hiện triệu chứng chứ không để xảy ra quá lâu, vì rất dễ làm giảm năng suất cây trồng. Thường thì người ta có thể bổ sung muối khoáng/ phân bón chứa nguyên tố bị thiếu hụt vào dung dịch dinh dưỡng, nhưng thường một muối khoáng có thể cung cấp hai nguyên tố dinh dưỡng, nên khi nguyên tố này được bổ sung đủ, nguyên tố khác dễ bị dư thừa ra. Biện pháp khác đó là bón phân qua lá, nhưng thường chỉ là biện pháp phụ vì nếu quá lạm dụng sẽ khiến bộ rễ cây yếu đi, giảm năng suất sau này.
Biểu hiện thiếu/ dư chất ở cây trồng (sưu tầm)
A. Các nguyên tố linh động
A.1. Nitrogen (N):
_ Thiếu N: cây vàng vọt, tăng trưởng kém, biểu hiện màu vàng ở lá già trước, lá non giữ được màu xanh lâu hơn. Ở bắp, cà chua, thân và lá dưới thấp có thể chuyển sang màu tím.
_ Dư N: lá cây có màu xanh đậm bất thường, rễ kém phát triển, nhất là cây lấy củ.
A.2. Phosphorus (P):
_ Thiếu P: cây còi cọc, tăng trưởng kém, lá già chuyển màu xanh thẫm hơn lá non.
_ Dư P: dễ dẫn đến thiếu hụt Ca, Zn ở cây.
A.3. Potassium (K):
_ Thiếu K: với cây hai lá mầm, lá già thường bị mất màu, trên lá xuất hiện các vết hoại tử nhỏ màu nâu vàng, sau đó sẽ lan dần ra toàn bộ lá và lá bị chết. Với cây một lá mầm, phần mép lá già chuyển màu vàng nâu, lá chết dần.
_ Dư K: ít thấy. Ở họ cam chanh, trái khi dư K dễ bị chai sần lớp vỏ. Dư K cũng có thể kéo theo thiếu Mg, hoặc đôi khi là Mn, Zn, Fe.
A.4. Magnesium (Mg):
_ Thiếu Mg: lá già dễ chuyển úa vàng, úa từ mép lá trước rồi lan dần toàn bộ lá.
_ Dư Mg: ít gặp.
A.5. Zinc (Zn):
_ Thiếu Zn: khoảng cách hai lá liền kề ngắn hơn so với bình thường, lá cũng nhỏ hơn bình thường; mép lá dễ bị úa vàng, nhăn nheo, méo mó.
_ Dư Zn: dẫn tới thiếu hụt Fe.
B. Các nguyên tố cố định
B.1. Calcium (Ca):
_ Thiếu Ca: hoa, trái kém phát triển, gốc rễ yếu, cây dễ chết. Lá non nhỏ hơn bình thường, méo mó, dễ hoại tử, để lâu triệu chứng sẽ lan xuống các lá già hơn.
_ Dư Ca: chưa rõ.
B.2. Sulfur (S):
_ Thiếu S: ít gặp, thường nếu thiếu S lá non dễ bị vàng.
_ Dư S: tăng trưởng kém, lá không phát triển hoặc sẽ nhỏ hơn bình thường, dễ bị cháy lá.
B.3. Manganese (Mn):
_ Thiếu Mn: lá non dễ bị vàng úa, thường kèm theo các vết hoại tử trên lá và dễ rụng.
_ Dư Mn: màu xanh trên lá phân bố không đều, tăng trưởng chậm.
B.4. Iron (Fe):
_ Thiếu Fe: biểu hiện gần giống như thiếu Mn, xảy ra trên lá non trước.
_ Dư Fe: lá dễ bị các vết hoại tử lớn.
B.5. Copper (Cu):
_ Thiếu Cu: lá non chuyển màu xanh đậm, dễ bị xoắn hay biến dạng, kèm theo những đốm hoại tử,
_ Dư Cu: tăng trưởng chậm, cây còi cọc, ít phân nhánh, rễ con dày và đậm màu hơn. Ngoài ra có thể dẫn tới thiếu Fe ở cây.
B.6. Boron (B):
_ Thiếu B: một số loại cây dễ bị chất ở phần thân và rễ. Ở rễ thường sẽ bị rộp, mô bên trong vết rộp bị chết. Lá dày, giòn, héo, kèm các đốm không màu xuất hiện.
_ Dư B: chóp lá bị vàng kèm các vết hoại tử, để lâu sẽ lan dần toàn bộ lá.
B.7. Molybdenum (Mo):
_ Thiếu Mo: lá già úa, lan dần sang các lá non nếu để lâu. Hoặc dễ nhận thấy nhất là mép lá bị vênh lên như chiếc muỗng và bị cháy, teo lại.
_ Dư Mo: ít thông tin.
 
Last edited:
EbooksHunter
#7
Một vài lời tới các độc giả:
_ Phần dinh dưỡng thực vật hiện trên mạng có rất nhiều bài viết về nó, nhưng không đồng nhất với nhau, nên một nông dân như tôi khi viết bài như trên chỉ dám chọn một ý trong số đó mà tôi cho là dễ hiểu nhất và ngồi gõ phím lại. Mục đích của tôi là muốn các bạn, ai biết rồi thì thôi, ai chưa biết thì coi qua để mà sau này có đi trồng trọt thì biết được bản chất cơ bản cây trồng hay phân bón nó ra sao, không còn có cái nhìn lệch lạc về thủy canh nữa, bởi vì với tôi thủy hay thổ canh gì cũng vậy, cái cách dinh dưỡng đi vào trong cây nó như nhau, khác là đi vào nhanh hay chậm thôi. Nếu chăm sóc và quản lý tốt thì cho sản phẩm sạch, tốt; chăm sóc hay quản lý cây trồng không tốt thì sản phẩm bẩn, độc hại, đơn giản vậy thôi.
_ Phần tiếp theo sẽ là phần pha chế dung dịch thủy canh, cũng là phần mà nhiều người chưa biết về thủy canh mong đợi nhất, nhưng mong các bạn hiểu cho tôi một vấn đề như vầy, đó là thủy canh tôi tổng hợp nhiều nguồn và viết lại một quyển vài trăm trang, viết cách đây rất lâu rồi nên giờ quên sạch sẽ phải ngồi mò lại mới gõ tiếp được, nhưng word nó không hỗ trợ gõ công thức toán, trong khi cái phần pha dung dịch thủy canh lại có rất nhiều thứ phải gõ bằng công thức, nên từ đây trở đi tôi hướng dẫn qua video luôn (sẵn tiện thử làm YouTube luôn :))), vì qua video tôi có thể trình bày trên bảng và sẽ nói được thêm một số vấn đề mà ngồi gõ thì không gõ hết được. Tôi có xin phép admin đăng bên mục video, nhưng làm vậy thì một bài nội dung như nhau mà đăng hai nơi thì không hay, nên tôi xin phép gộp chung trong topic này. Và tôi không quen phát biểu trước đông người nên trình bày lấn cấn lắm, bữa giờ làm đi xoá lại rất nhiều rồi mà chưa được cái video nào, nên chắc các bạn đợi hơi lâu.
_ Phần pha chế dung dịch thủy canh hiện nay có nhiều diễn đàn nông nghiệp họ bày cách pha lắm, nhưng tôi thấy có nhiều bất cập, chẳng hạn như họ pha và chỉ cho người khác rất máy móc, trong khi các bạn nên biết rằng phân bón tuỳ nơi sản xuất và với cùng một loại phân đó có thể có thành phần khác nhau, không thể cứ mua về rồi ráp vô phần mềm tính toán rồi dùng với hàm lượng giống nhau được, vì cây có thể phát triển tốt, nhưng sản phẩm của nó an toàn hay không thì chưa biết. Yêu cầu của riêng tôi đối với các bạn khi làm thủy canh đó là các bạn phải dùng tới phân bón/ hoá chất với nhãn mác ghi đầy đủ thông tin về phân bón/ hoá chất đó mới có được sự an toàn, tôi không bao giờ khuyến khích các bạn dùng những loại không có nguồn và nhãn mác rõ ràng, và nhất là đừng đi lấy mấy cái hoá chất công nghiệp mà pha dung dịch thủy canh. Việc tính toán pha chế nếu các bạn đã nắm được thì nó không tốn bao nhiêu thời gian hết, chỉ cần biết cách tính và một máy tính cầm tay đời cũ là đủ, đừng quá lười vứt hết cho mấy phần mềm tính toán thay cho các bạn, vì khi các bạn lệ thuộc vào mấy cái phần mềm đó thì sau này có gì các bạn chịu chứ ai chịu? Tôi tham gia tổng cộng ba forum nông nghiệp, và tôi chọn nơi này để viết bài thủy canh là bởi hai diễn đàn kia đã ngập tràn những bài hướng dẫn thủy canh mà tôi nêu trên. Tôi từng tranh luận với họ trong một số bài viết và rốt cuộc tôi thua, vì hướng của họ quá khác với tôi, và họ thực hành trồng cây nhiều rồi, cây phát triển vù vù thì càng có cớ tin rằng là pha chế đúng, trong khi tôi không có điều kiện đó. Dù sao tôi cũng chỉ là tay ngang nghiên cứu tạp nham về nông nghiệp, nên nghiên cứu của tôi có hạn, hướng dẫn cho các bạn chỉ là lý thuyết, còn có hiệu quả hay không vẫn là ở các bạn. Topic này các bạn có thể thoải mái thảo luận, chê bai gì cũng được, vì tôi cũng mong góp được kiến thức thêm nữa, càng nhiều càng tốt.
Thân chào!
 
Last edited:
Top