• Bột cá, dầu cá và ứng dụng trong thức ăn thuỷ sản

    Thảo luận trong 'Nuôi trồng Thủy hải sản' , 29/8/10

    1. fleohau Nhà nông tập sự

      Một nguồn lớn động vật biển được sử dụng trong thức ăn thuỷ sản, nhiều loài trong tự nhiên được sử dụng như thức ăn ở trại giống, trại nuôi thương phẩm, số khác có thể được kết hợp với thức ăn thủy sản có tính thương mại, đây cũng là phần sử dụng trọng điểm của nguồn lợi to lớn này. Tuy nhiên, một lần nữa phải nhấn mạnh rằng, những loại thức ăn tự chế ở các trại nuôi cũng là một nguồn lớn, tuy không phải lúc nào cũng đảm bảo về số lượng, ngày càng có nhiều loại được sử dụng, đặc biệt là cá tạp trong nuôi cá biển, cá săn mồi nước ngọt, hai mảnh vỏ trong nuôi tôm.

      Nguồn lợi này bao gồm hai nhóm chính: bột cá và dầu cá (trong tương lai sẽ giữ vai trò rất quan trọng), một số nguồn lợi khác như giáp xác, hai mảnh vỏ, chân đầu và rong biển.

      Bột cá

      [​IMG]
      Bột cá ngừ độ đạm 55% tại cơ sở sản xuất bột cá Ngừ Dương Quang - Châu Đốc 0989.223.032 (Kim Liên)

      Bột cá dựa chủ yếu từ nguồn khai thác ven biển theo mùa, một phần chính sử dụng như phân bón, phần còn lại phơi khô một thời gian dài và được nghiền nát thành bột cá (thức ăn cho động vật), sử dụng chủ yếu trong khẩu phần của gia cầm, lợn và cá - những loài có nhu cầu cao về tỷ lệ prôtêin hơn những loài chăn thả như gia súc và cừu. Khoảng 90 % lưọng bột cá của thế giới được sản xuất từ các loài cá có dầu như maclerel, pilchard, capelin và manhaden, 10 % còn lại ít hơn từ loài cá thịt trắng, số khác từ cá voi hay các loài có vỏ đá vôi. Toàn bộ cơ thể cá, sau khi loại bỏ nước và một ít dầu sẽ được phơi khô và nghiền thành bột cá. Bột cá thịt trắng làm từ các loài cá không dầu như cá minh thái, cá tuyết, cá mình dẹt, cá đá, cá đối… một phần từ nội quan cá và một phần sau khi lọc. Chất béo trong sản phẩm cuối thường chiếm từ 3-6 %, các phần phụ của cua, điệp, tôm thỉnh thoảng cũng được thêm vào. Chất lượng prôtêin của gan, thận.. thường thấp hơn chất lượng prôtêin của toàn bộ cơ thể.

      Lipid có trong bột cá (không phải bột của nội quan cá) đựơc làm từ cá có dầu là 5-10 %. Vật liệu thô chứa 10 % lượng dầu, tính trọng lượng khi ướt. Thông thường, nhiều trong số dầu này có được khi vắt, ép cá suốt quá trình chế biến. Bột cá từ cá có dầu có thể của nguyên cơ thể (đến 8 % dầu), bánh ép (10 % dầu) hoặc dạng hoà tan, những thứ được bán ở dạng cô đặc hoặc dạng khô. Chất lỏng được ép chứa 13 % dầu và 6,5 % chất rắn lơ lửng, hầu hết dầu được lấy đi bằng cách li tâm trước khi các chất rắn được tập trung thành dạng cô đặc hoặc dạng khô có thể hoà tan. Hầu hết bột cá là bột “nguyên vẹn”, tức là bột mà hơi ẩm và một ít dầu đã được lấy đi.

      Bột cá là thành phần có giá trị nhất trong thức ăn thuỷ sản và, xa hơn nữa, nó là thành phần chủ yếu trong khẩu phần của cá săn mồi và tôm. Nó có vị ngon và chất lượng rất tốt, cung cấp đủ prôtêin với các axít béo thiết yếu. Nếu xét về khía cạnh kinh tế thì nó là nguồn cung cấp prôtêin duy nhất trong thức ăn thuỷ sản. Đây cũng là trường hợp tương tự cá hồi. Nó là một nguồn năng lượng tốt và dầu của nó cũng có các thành phần tương ứng như vitamin, khoáng và các yếu tố dạng vết khác. Tuy nhiên nó có hàm lượng phốt pho cao và dễ gây ô nhiễm. Bột cá chất lượng cao và dầu cá là những chất hoạt động tốt trong thức ăn thuỷ sản. Bột cá bản thân nó cũng được sử dụng như một nguồn dầu cá, giúp tăng sức kháng bệnh (đối với thức ăn gia súc) đặc biệt trong giai đoạn đầu đời. Điều này cũng có thể đúng với thức ăn thuỷ sản.

      Bột cá chất lượng cao đã có sự ứng dụng rộng rãi trong nuôi trồng thuỷ sản và về mặt thương mại cũng có thể đạt được nếu kiểm soát được chất lượng nguyên liệu thô và điều kiện chế biến một cách nghiêm ngặt. Theo đà tăng trưởng, nuôi trồng thuỷ sản thâm canh sử dụng loại thức ăn thuỷ sản có chứa loại bột cá được sản xuất chuyên biệt, được gọi là bột cá LT. Chúng được sản xuất bằng cách giữ thời gian từ lúc khai thác đến lúc chế biến ngắn trong mức có thể; giữ tàu khai thác sạch sẽ, bảo quản vật liệu thô bằng đá hoặ thông qua cấp đông và dùng nhiệt độ thấp trong cả quá trình nấu và phơi khô của quá trình sản xuất bột cá mà không làm tăng thời gian phơi khô. Bột cá LT có một số ưu điểm vượt trội so với nhiều loại bột cá khác; cũng có một số ưu điểm tương tự đối với tôm nhưng điều này chưa được kiểm chứng. Mặc dù bột cá LT đắt hơn rất nhiều so với bột cá thông thường nhưng thức ăn đã được nâng cao hiệu quả chuyển hoá khi thêm loại bột cá này vào, vì vậy giảm được chi phí thức ăn trên mỗi đơn vị trọng lượng cơ thể.

      Bột cá là loại thức ăn tốt nhất cho cá xương và giáp xác, chất lượng nổi trội với hàm lượng prôtêin cao. Tuy vậy, quá trình chế biến và lưu giữ kém sẽ làm giảm các amino axít, ôxi hoá lipít và là nguyên nhân tạo ra các chất kháng dinh dưỡng như histamin và dẫn xuất gizzerosin, chất ảnh hưởng đến cá nhưng có thể không ảnh hưởng đến tôm – loài không có dạ dày kiểu tiết axít đúng nghĩa. Những chất này và những amin khác đã được thảo luận nhiều bởi Pike và Hardy (1994). Chamberlin (1993) lưu ý rằng cá hồi có sức chịu đựng kém đối với histamin và gizzerosin, trong khi hầu như không có thông tin nào về ảnh hưởng của bột cá lên tất cả các loài khác. Tuy nhiên, Pike và Hardy (1994) ở UK đã khẳng định việc sử dụng bột cá bị hỏng, mốc với lượng cao histamin và tyramin, sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng của tôm sú.

      Việc bổ sung bột cá váo thức ăn thuỷ sản cũng có một vài điểm khác biệt, tuỳ thuộc vào loài, giai đoạn phát triển của loài sẽ ứng với các khẩu phần và các thành phần dinh dưỡng tương ứng. Tỷ lệ thêm vào phổ biến, hiện tại giới hạn từ mức thấp 5 % trong thức ăn của cá da trơn đến cao 60 % trong thức ăn của cá biển. Nói chung, phần bột cá thêm vào đang được trông đợi sẽ giảm đến năm 2000 nhưng vẫn sẽ còn đến 40 % hoặc nhiều hơn cho tất cả các loài cá xương ngoại trừ cá hồi và cá da trơn. Tỷ lệ thêm vào cho cá hồi (30 %) và tôm (25 %) không hy vọng đạt được trong giai đoạn này. Tuy vậy, nó còn tuỳ vào từng trường hợp, tỷ lệ thêm vào này có thể tăng lên trong nuôi trồng thủy sản thâm canh nhưng ở mức độ tham canh ít hơn, nó có thể được giảm xuống.

      Dầu cá

      Dầu cá được chiết xuất từ cá nguyên con, hoặc các phần thải ra khi chế biến bột cá, nó là nguồn cung cấp năng lượng rất tốt trong thức ăn thuỷ sản và còn chứa các vitamin thiết yếu, phốt pho và phốt pho lipít. Dầu cá có các axít béo thiết yếu, rất giàu PUFA và đặc biệt cao ở hàm lượng HUFA. Dầu cá, cũng như bột cá, được thêm vào với nhiều mức khác nhau. Dầu cá có thể được thêm vào khẩu phần của cá rô mà cũng có thể không. Tỷ lệ thêm vào 1 % - 2 %, thậm chí là 15 % ở cá hồi. Mức độ thêm vào của dầu cá cũng không hy vọng sẽ giảm đi từ đây đến năm 2000, trái lại nó đang được hy vọng sẽ tăng lên.

      Nguồn: http://www.facebook.com/note.php?note_id=169936507333<input id="gwProxy" type="hidden"><!--Session data--><input onclick="jsCall();" id="jsProxy" type="hidden">
       
      Đang tải...

    Chia sẻ trang này

    Đang tải...
    Đang tải...