• Chùm ngây: loài cây vạn năng cho vùng sinh thái khắc nghiệt

    Thảo luận trong 'Kỹ thuật trồng trọt' , 12/4/12

    1. tracryum Nhà nông chính hiệu

      [h=3]Chùm ngây: loài cây vạn năng cho vùng sinh thái khắc nghiệt[/h]

      Cây chùm ngây còn được gọi là “cây phép mầu”, “cây thần diệu”, hay “cây phép lạ”, bắt nguồn từ tên tiếng Anh là “Miracle tree”. Thật vậy, đây là một loài cây đa tác dụng hay nói cách khác là cây vạn năng (multipurpose tree), vì ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là các vùng đang phát triển ở châu Á và châu Phi, nó được xem tài nguyên vô giá, chống nạn thiếu dinh dưỡng, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phòng hộ giảm nhẹ thiên tai. Ngoài khả năng cung cấp chất dinh dưỡng, các bộ phận của cây chùm ngây còn có dược tính phổ rộng, được dùng để điều trị rất nhiều bệnh khác nhau. Chính nền y học cổ truyền của Ấn Độ cũng đã xác định được 300 bệnh khác nhau được điều trị bằng lá của cây này.
      [​IMG]
      1. Về dinh dưỡng học: cây chùm ngây đã thể hiện được rằng, hầu hết các bộ phận sống của nó có chứa đủ các thành phần dinh dưỡng, có thể giúp ích cho sự sống của con người và động vật.
      1.1. Lá cây được dùng làm rau ăn (lá, chồi, cành non và cả cây con được dùng trộn dầu dấm ăn thay rau diếp), làm bột cà-ri, ủ chua làm gia vị, làm trà giải khát… Ở châu Phi, nó được dùng để chống suy dinh dưỡng cho trẻ con. Lá chùm ngây chứa nhiều vitamin và muối khoáng có ích, với hàm lượng rất cao: vitamin C cao gấp 7 lần trong cam, provitamin A cao gấp 4 lần trong cà-rốt, calcium cao gấp 4 lần trong sữa, potassium cao gấp 3 lần trong chuối, sắt cao gấp 3 lần trong rau diếp, và ngay cả protein cũng cao gấp 2 lần trong sữa. Ngoài ra, nó còn chứa nhiều vitamin B, các acid amin có lưu huỳnh như *****onin, cystein và nhiều acid amin cần thiết khác. Do vậy, lá chùm ngây được xem là một trong những nguồn dinh dưỡng thực vật có giá trị cao. Trong 100 g bột lá sấy khô có: calori 205, protein (g) 27,1, chất béo (g) 2,3, carbohydrate (g) 38,2, chất xơ (g) 19,2, Ca (mg) 2,003, Mg (mg) 368, P (mg) 204, K (mg) 1,324, Cu (mg) 0,57, Fe (mg) 28,2, S (mg) 870, acid oxalic (mg) 1,6%, vitamin A-β carotene (mg) 16,3, vitamin B1 – thiamin (mg) 2,64, vitamin B2 – riboflavin (mg) 20,5, vitamin B3 – nicotinic acid (mg) 8,2, vitamin C – ascorbic acid (mg) 17,3, vitamin E – tocopherol acetate (mg) 113, arginin (g/16gN) 1,33%, histidin (g/16gN) 0,61%, lysin (g/16gN) 1,32%, tryptophan (g/16gN) 0,43%, phenylanaline (g/16gN) 1,39%, *****onine (g/16gN) 0,35%, threonine (g/16gN) 1,19%, leucine (g/16gN) 1,95%, isoleucine (g/16gN) 0,83%, valine (g/16gN) 1,06%.
      1.2. Hoa chùm ngây có thể dùng để làm rau ăn hoặc làm trà (nhiều nước Tây phương sản xuất trà hoa chùm ngây bán ngoài thị trường), cung cấp tốt nguồn muối khoáng calcium và potassium. Nó cũng là nguồn cung cấp nguyên liệu rất tốt cho người nuôi ong. Quả non của nó có thể chiên xào để ăn với hương vị như măng tây.
      1.3. Hạt chùm ngây chứa nhiều dầu, lượng dầu chiếm đến 30 – 40% trọng lượng hạt, có nơi trồng chùm ngây ép dầu, năng suất dầu đạt 10 tấn / ha. Dầu hạt chùm ngây chứa 65,7% acid oleic, 9,3% acid palmitic, 7,4% acid stearic và 8,6% acid behenic. Ở Malaysia, hạt chùm ngây được dùng để ăn như đậu phụng. Dầu chùm ngây ăn được, và còn được dùng bôi trơn máy móc, máy đồng hồ, dùng cho công nghệ mỹ phẩm, xà phòng, dùng để chải tóc. Dầu chùm ngây được bán ở thị trường dưới tên gọi tiếng Anh là ben-oil. Chính vì thế cây chùm ngây có tên là “Ben-oil tree”.
      1.5. Các đoạn rễ non được dùng làm rau thay cho cải ngựa. Cải ngựa là một loài rau diếp với tên khoa học là Armoracia rusticana = Cochlearia armoracia, tên tiếng Anh là Horseradish, vì thế cây chùm ngây còn có tên tiếng Anh là “Horsradish tree” và cũng từ đó người Việt còn gọi nó là “cây cải ngựa”.
      2. Về y học: nhiều bộ phận của cơ thể cây chùm ngây đã được dùng làm thuốc chữa nhiều bệnh khác nhau.
      2.1. Lá, hoa và rễ được dùng trong y học cộng đồng, chữa trị các khối u. Lá dùng uống để điều trị chứng hạ huyết áp và vò xát vào vùng thái dương để trị chứng nhức đầu. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, lá chùm ngây có tính chất như một kháng sinh chống các viêm nhiễm nhỏ. Vỏ, lá và rễ được dùng tăng cường tiêu hóa. Theo Hartwell, hoa, lá, và rễ còn được dùng trị sưng tấy; còn hạt dùng trị trướng bụng. Lá còn được dùng để điều trị các vết cắt ở da, vết trầy sướt, sưng tấy, nổi mẩn ngứa hay các dấu hiệu của lão hóa da. Dịch chiết từ lá có tác dụng duy trì ổn định huyết áp, trị chứng bần thần, chống nhiễm trùng da. Nó cũng được dùng để điều khiển lượng đường máu trong trường hợp bị bệnh tiểu đường. Dịch chiết từ lá có thêm nước cà-rốt là một thức uống lợi tiểu. Bột làm từ lá tươi có khả năng cung cấp năng lượng làm cho năng lượng tăng gấp bội khi dùng thường xuyên. Lá cũng được dùng chữa sốt, viêm phế quản, viêm nhiễm mắt và tai, viêm màng cơ, diệt giun sán và làm thuốc tẩy xổ. Sản phụ ăn lá sẽ làm tăng tiết sữa. Ở Philippines lá được chỉ định dùng chống thiếu máu, do chứa lượng sắt cao.
      2.2. Hạt điều trị bệnh viêm dạ dày. Dầu hạt được dùng ngoài để điều trị nấm da. Trường Đại học San Carlos ở Guatemala đã tìm ra một loại kháng sinh có tác dụng như neomycin có khả năng bảo vệ da khỏi sự viêm nhiễm do Staphylococcus aureus. Loại kháng sinh này là một hỗn hợp kháng khuẩn và nấm có tên pterygospermin, danh pháp hóa học là glucosinolate 4 alpha-L-rhamnosyloxy benzyl isothiocyanate. Nhiều nơi trên thế giới dùng bột nghiền từ hạt để khử trùng nước sông, nước sông trong mùa lũ có tổng số trực trùng Escherichia coli lên tới 1.600 – 18.000 / 100 ml, được xử lý bằng bột hạt chùm ngây trong vài giờ đồng hồ đã giảm xuống còn 1 – 200 / 100 ml.
      2.3. Rễ có vị đắng, được xem như một loại thuốc bổ cho cơ thể và phổi, điều kinh, long đàm, lợi tiểu nhẹ. Ở Nicaragua, nước sắc rễ được dùng chữa bệnh phù thủng. Dịch rễ được dùng ngoài để điều trị chứng mẩn ngứa do dị ứng. Trong rễ và hạt, cũng có chất kháng sinh pterygospermin.
      2.4. Vỏ cây được dùng điều trị chứng thiếu vitamin C, đôi khi dùng trị tiêu chảy.
      2.5. Trong những năm gần đây, những công trình nghiên cứu được công bố trong các báo “Phytotherapy Rechearch” và “Hort Science” cũng đã cho thấy các tác dụng khác nhau của các bộ phận cây chùm ngây như, chống hạ đường huyết, giảm sưng tấy, chữa viêm loét dạ dày, điều trị chứng hạ huyết áp và ngay cả làm êm dịu thần kinh trung ương.
      3. Về ứng dụng công nghiệp: gỗ cây chùm ngây rất nhẹ, có thể dùng làm củi, nhưng năng lượng không cao. Nó được xem là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho kỹ nghệ giấy và còn được dùng để chế phẩm màu xanh. Vỏ cây có khả năng cung cấp ta-nanh (tannin, tanin), nhựa dầu và sợi thô.
      4. Khả năng phòng hộ: Cây chùm ngây thuộc loại cây mọc nhanh và dễ tính, sống được ở những điều kiện đất đai khô cằn và trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chịu được hạn hán. Do vậy, nhiều nơi trên thế giới, cây chùm ngây được trồng làm hàng rào xanh che chắn cho các khu sản xuất nông nghiệp, che bóng cho các cây công nghiệp dài ngày, chắn gió, chắn cát bay. Ngoài ra, cây có khả năng cải tạo đất, lá dùng làm phân xanh và làm thức ăn bổ sung cho gia súc rất tốt, cây có lá nhỏ, thân thon, tán đẹp nên được trồng làm cảnh.
      5. Đặc điểm hình thái học: Cây chùm ngây có dạng sống là cây gỗ nhỏ, cao từ 8 – 10m. Lá kép lông chim 3 lần, dài 30 – 60 cm, với nhiều lá chét màu xanh mốc mốc, không lông, dài 1,3 – 2 cm, rộng 0,3 – 0,6 cm; lá kèm bao lấy chồi. Hoa thơm, to, dạng hơi giống hoa đậu, tràng hoa gồm 5 cánh, màu trắng, vểnh lên, rộng khoảng 2,5 cm. Bộ nhị gồm 5 nhị thụ xen với 5 nhị lép. Bầu noãn 1 buồng do 3 lá noãn, đính phôi trắc mô. Quả nang dài từ 30 – 120 cm, rộng 2 cm, khi khô mở thành 3 mảnh dày. Hạt nhiều (khoảng 20), tròn dẹp, to khoảng 1 cm, có 3 cánh mỏng bao quanh.
      6. Đặc điểm phân loại: chùm ngây là một trong 13 loài thuộc chi Moringa, họ Moringaceae, với tên khoa học là Moringa oleifera Lamk.. Trong đó, Moringa là tên chi, được Latin hóa từ tên bản xứ gốc tiếng Tamil murungakkai, oleifera có nghĩa là chứa dầu, được ghép bởi gốc từ olei- (dầu) và -fera (mang, chứa). Tên đồng nghĩa là Moringa pterygosperma Gaertn. (pterygosperma: phôi có cánh, tên kháng sinh pterydospermin cũng từ đây mà có), Guilandina moringa L., Moringa moringa (L.) Small.
      Trên thế giới, chùm ngây được gọi dưới nhiều tên khác nhau:
      Tiếng Anh: Horsradish tree, Ben tree, Behn tree, Ben-oil tree, Benzolive tree, West Indian ben, Drumstick tree, Moringa tree
      Tiếng Pháp: Ben ailé, Ben ailée, Ben oléifère, Moringa ailée, Pois quénique
      Tiếng Đức: Behenbaum, Behennussbaum, Meerrettichbaum
      Tiếng Hà Lan: Benboom, Peperwortel boom
      Tiếng Ý: Been, Bemen.
      Tiếng Arabia: Habbah ghaliah, Rawag (Sudan), Shagara al ruway (Sudan).
      Tiếng Bồ Đào Nha: Acácia branca, Moringa, Muringueiro.
      Tiếng Tây Ban Nha : Arbol de las perlas, Arbol do los aspáragos, Ben, Jacinto (Panama), Jasmin francés, Jazmin francés (Puerto Rico), Maranga, Maranga calalu (Honduras), Marango (Costa Rica), Palo de aceite (Dominican Republic), Palo de abejas (Dominican Republic), Paraíso, Paraíso blanco (Guatemala), Perlas (Guatemala), Resada (Puerto Rico).
      Tiếng Nga: Моринга олейфера.
      Tiếng Myanmar: Dandalonbin, Dan da lun.
      Tiếng Nhật: Wasabi no ki.
      Tiếng Khmer : Daem mrom.
      Tiếng Indonesia : Kelor, Kalor.
      Tiếng Malaysia : Moringa, Muringa, Sigru.
      Tiếng Ấn Độ : Sobhan jana.
      Tiếng Tamil: Murungai.
      Tiếng Thái: Ka naeng doeng, Ma khon kom, Ma rum (bean / pod), Phak i huem, Phak i hum, Phak nuea kai, Phak ma rum (leaves), Se cho ya.
      7. Đặc điểm phân bố: Cây có nguồn gốc ở Ấn Độ, Arabia, châu Phi, vùng Viễn Tây châu Mỹ; được trồng và mọc tự nhiên ở vùng nhiệt đới châu Phi, nhiệt đới châu Mỹ, Sri Lanka, Ấn Độ, Mexico, Malabar, Malaysia và Philippines. Ở Việt Nam, từ lâu, cây đã được trồng ở Nha Trang, Phan Thiết, Phú Quốc. Gần đây, kiều bào ở Mỹ Trần Tiễn Khanh đã chuyển về Việt Nam 100 hạt giống, đã được phân phát cho một số nông dân ở Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng.
      8. Đặc điểm sinh thái: Cây có khả năng sống từ vùng Cận nhiệt đới khô đến ẩm cho đến vùng nhiệt đới rất khô đến vùng rừng ẩm. Chịu lượng mưa từ 480 – 4000 mm/năm, nhiệt độ 18,7 – 28,5oC và pH 4,5 – 8. Chịu được hạn và có thể sinh trưởng tốt trên đất cát khô
      9. Nhân giống: Ở Ấn Độ, cây được nhân giống bằng cành 1 – 2 m. Thời vụ thích hợp từ tháng 5 – 8. Cây bắt đầu cho quả sau 6 – 8 tháng trồng. Quả được thu hoạch giữa tháng ba và tháng tư, sau đó thu lại một đợt nữa trong tháng 9 và tháng 10.
      10. Tình hình sâu bệnh hại: Sâu bệnh hại thường gặp là Ruồi đục quả Gitona spp., các loài bọ cánh cứng hại lá cây con và cây chồi giâm hom như: Mylloceus discolor, M. viridanus, Ptochus ovulum, thực vật ký sinh Dendrophthoe flacata và các nấm hại bao gồm: Cercospora moringicola, Sphaceloma morindae, Puccinia moringae, Oidium sp., Polyporus gilvus.
      Như vậy, đối chiếu các tính năng thực vật học, sinh thái học và các thành tựu về dinh dưỡng học, y học, môi trường học, chúng tôi thấy rằng, đây là một loài cây đầy tiềm năng cho việc hỗ trợ sự phát triển cộng đồng nông thôn miền núi và vùng cát ven biển. Ở khu vực miền Trung Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng, cuộc sống của cư dân trên dải đất cát ven biển đang gặp nhiều khó khăn, do thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai và điều kiện khắc kiện của môi trường sống, rất cần phát triển những loài cây vạn năng thích hợp. Tôi nghĩ rằng, đã đến lúc nghĩ tới việc bố trí thử nghiệm các mô hình trồng cây đa tác dụng cho vùng cát ven biển và vùng cát nội đồng, mà cây chùm ngây là một đối tượng không thể bỏ qua, hầu giúp cư dân nơi đây có thêm một nguồn tài nguyên mới, hỗ trợ cho việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và cứu đói những lúc giáp hạt.

      Cảm ơn tác giả ĐXC!
       
      Đang tải...
    2. tracryum

      tracryum Nhà nông chính hiệu

      Bài viết:
      446
      Đã được thích:
      63
      Nghề nghiệp:
      Kinh doanh nhỏ lẻ.
      Bài viết này sưu tầm được của bác ĐXC, tặng bác gì ở Q10 mà em quên mất tên.Bác ấy chuyên về trà làm từ cây chùm ngây...
       
    3. minhthaobc

      minhthaobc Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      165
      Đã được thích:
      109
      Bác nào có thể chỉ mình công thức nấu ăn từ rau Chùm Ngây không?
       
    4. moringa

      moringa Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      161
      Đã được thích:
      1
      Nghề nghiệp:
      Nông Dân
      rau chùm ngây nấu ăn như rau bình thường, công thức gì đâu ^^

      [​IMG]
       
      Last edited: 21/6/12
    5. khuongvu

      khuongvu Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      10
      Đã được thích:
      0
      Nghề nghiệp:
      Nghiên cứu viên
      Nói công thức nấu ăn từ chùm ngây thì hơi quá nhưng rau có vị hơi hăng hắc và dinh dưỡng trong rau rất cao, do vậy nếu nấu canh thì ko nên nấu nhiều rau quá.
       
    6. huyvan

      huyvan Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      2
      Đã được thích:
      0
      Nghề nghiệp:
      nông dân
      bán hạt giống cây chùm ngây tại daklak và toàn quốc

      mời các ban tim hiêu them về cây chùm ngây nhé
      TÁC DỤNG TUYỆT VỜI CỦA CAY CHUM NGÂY
      1.Chùm Ngây được Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) đánh giá là một trong những loại cây hữu dụng bậc nhất thế giới, cung cấp đến 32 dưỡng chất cho cơ thể. Bộ Y tế Việt Nam ngày 28/4/2011 đã có công bố trên cổng thông tin điện tử và đánh giá Chùm ngây là một loại cây “thần diệu” sẽ là cứu tinh của loài người thế kỷ 21. Lá Chùm Ngây chứa nhiều vitamin A hơn 4 lần so với cà rốt, nhiều canxi hơn 4 lần so với sữa, nhiều sắt hơn 3 lần so với cải bó xôi, nhiều vitamin C hơn 7 lần so với cam, nhiều kali hơn 3 lần so với chuối, và nhiều chất đạm hơn 2 lần so với sữa chua. Hạt và hoa Chùm Ngây có tác dụng chữa các triệu chứng về Gout, huyết áp, giảm stress, tăng cường sinh lực.

      Lợi ích và công dụng :

      Cây Chùm Ngây Moringa Oleifera hiện được 80 quốc gia trên thế giới, những quốc gia tiên tiến sử dụng rộng rãi và đa dạng trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát dinh dưỡng và thực phẩm chức năng. Các quốc gia đang phát triển sử dụng Moringa như dược liệu kỳ diệu kết hợp chữa những bệnh hiểm nghèo, bệnh thông thường và thực phẩm dinh dưỡng.

      Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, và là một nguồn cung cấp chất đạm, vitamins, beta-carotene, acid amin và nhiều hợp chất phenolics. Cây Chùm Ngây cung cấp một hỗn hợp pha trộn nhiều hợp chất như zeatin, quercetin, beta-sitosterol caffeoylquinic acid và kaempferol, rất hiếm gặp tại các loài cây khác

      Điều Trị :. Các bộ phận của cây như lá, rễ, hạt, vỏ cây, quả và hoa.. Có những hoạt tính như kích thích hoạt động của tim và hệ tuần hoàn, hoạt tính chống u-bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesterol, chống oxy-hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh và chống nấm.. Cây đã được dùng để trị nhiều bệnh trong Y-học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam Á.

      Dinh Dưỡng: Lá moringa giàu dinh dưỡng hiện được hai tổ chức thế giới WHO và FAO xem như là giải pháp ưu việt cho các bà mẹ thiếu sữa và trẻ em suy dinh dưỡng, và là giải pháp lương thực cho thế giới thứ ba


      Đối với trẻ em từ 1-3 tuổi, cứ ăn 20gr lá tươi moringa hoặc uống nước lá cây Chùm ngây là cung ứng 90% Calcium, 100% Vitamin C, Vitamin A, 15% chat sat, 10% chất đạm cần thiết và hàm luợng Potassium, Đồng, …vàVitamin B bổ sung cần thiết cho trẻ

      Đối với các bà mẹ đang cho con bú, chi cần dùng 100gr lá tươi mỗi ngày là đủ bổ sung Calcium, Vitamin C, VitaminA ,Sắt, Đồng, Magnesium, Sulfur, các vitamin B cần thiết trong ngày.: (nguồn: [Nội dung ẩn, đăng nhập để xem])
      Đối với người trung niên, cao tuổi, việc uống trà chiết xuất từ cây chùm ngây hoặc hãm nước lá chùm ngây uống mỗi ngày sẽ giúp an thần, ngủ sâu, kích thích tiêu hóa (thèm ăn), giảm cholesterol, thanh nhiệt và giải độc
      Cách dùng:
      -Pha nước từ lá khô (lá khô hàm lượng dinh dưỡng cao hơn lá tươi)
      -Rau sống: lá tươi dùng trộn ăn sống như rau xà lách
      -Nước sinh tố: xay 20gr lá chung với 2 muỗng cafe sữa, 2 muỗng café đường sữa uống như uống sinh tố
      -Nấu canh: 100gr lá moringa nấu chung với 50gr thịt bò hoặc heo, hoặc nấu chay với 100gr nấm
      -Dưỡng da: tại Mỹ và các nước Âu châu, cây Moringa được sử dụng rộng rãi trong công nghê dưỡng da, mỹ phẩm cao cấp: các bà các cô có thể áp dụng ngay: giã nhuyễn 20gr lá, để không hoăc trộn với dầu lấy từ hat Moringa thoa đắp 2 lần, mỗi lần 7 phút, trong một ngày, trong một tuần sẽ thấy hiệu nghiệm.

      ( lưu ý: không nên ủ đắp trên da mặt quá lâu trên 10 phút )
      BẠM NÀO Ở DAKLAK MUỐN TRỒNG CÂY NÀY XIN LIÊN HỆ:DƯỢC SĨ: LÊ VĨNH HÀ
      0905718469 -174 NGUYÊN TRI PHƯƠNG BMT_DAKLAK

      gơi các bạn vài tấm hinh cây chùm ngây
      [​IMG]
      [​IMG]
       
    7. duongnguyen2111

      duongnguyen2111 Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      261
      Đã được thích:
      57
      Nghề nghiệp:
      Director Sale Agriculture
      Ông Moringa thương mại hóa lắm rồi đó nhak! Đi đâu cũng quảng cáo! Thấy không ưa!
       
    8. duongnguyen2111

      duongnguyen2111 Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      261
      Đã được thích:
      57
      Nghề nghiệp:
      Director Sale Agriculture
      Chùm ngây là cây Độ Sinh.! Ông hiểu chứ...!
       
    9. chienmdht

      chienmdht "Kiên nhẫn là dấu ấn của tình thương"

      Bài viết:
      257
      Đã được thích:
      320
      Nghề nghiệp:
      IT
      Cho em hỏi cây này có thể mang lên các vùng núi phía bắc để trồng không ạ? Ví dụ vùng núi cao ở Lào Cai, Yên Bái, ... Em cảm ơn nhiều ạ
       
    10. hoa-xuong-rong

      hoa-xuong-rong Nhà nông nghiệp dư

      Bài viết:
      208
      Đã được thích:
      64
      Nghề nghiệp:
      nong dan
      trồng được, mùa đông nó kém phát triển lắm. trồng làm rau ăn ngon lắm ngon từ nước ngọt từ xương
       
    11. chienmdht

      chienmdht "Kiên nhẫn là dấu ấn của tình thương"

      Bài viết:
      257
      Đã được thích:
      320
      Nghề nghiệp:
      IT
      Vâng, em cảm ơn ạ.
      Sao em đọc wiki nó bảo là "Cây chùm ngây cho nhiều lá vào cuối mùa khô trong khi các loài cây rau khác thường cho ít lá" Thế là thế nào nhỉ hic ko lẽ Wiki lại chém gió? :(
      link em đọc đây ạ
      http://vi.wikipedia.org/wiki/Chùm_ngây
       

    Chia sẻ trang này

    Đang tải...
    Đang tải...