• Muôn sắc hoa dại

    Thảo luận trong '1001 điều về hoa' , 21/4/15

    1. hongtam Nhà nông chính hiệu

      Thế giới các loài hoa
      [​IMG]
      Muôn sắc hoa dại
      Không rực rỡ, kiêu sa, không có hương thơm quyến rũ, cũng chẳng được con người chăm chút, nâng niu, nhưng những đóa hoa dại lại mang trong mình vẻ đẹp bình dị, giản đơn cùng sức sống mãnh liệt. Chẳng cần công chăm bón, hoa dại vẫn cứ len lỏi mạch sống nơi vách đá, ven suối, ven rừng hoặc khiêm nhường tỏa sắc dọc theo những con đường quanh co, uốn lượn, như muốn níu kéo bước chân những khách bộ hành yêu hoa; có loài lại vững chắc kết thành hàng rào " tự nhiên" hay leo, bò hờ hững nơi dậu rào rất đổi nên thơ ...

      Sau đây Hoa Đất Việt xin giới thiệu đến các bạn một số loài hoa dại phổ biến ở Việt Nam, trong đó chắc hẳn có những loài hoa mà trong chúng ta ai cũng đã từng được thấy một lần trong đời.

      Hoa trinh nữ

      [​IMG]
      Cây trinh nữ còn có tên khác là cây xấu hổ, cây mắc cỡ, cây thẹn, hàm tu thảo. Tên khoa học là Mimosa pudica L..
      Trinh nữ là cây cỏ nhỏ có gai, mọc rà ở đất, lá bẹ có rìa lông. Khi bị đụng đến và lúc về đêm thì lá xếp lại. Hoa hình đầu tròn, có màu hồng, quả có lông, rụng thành từng đốt. Cây có tính an thần, giúp dễ ngủ. Cây trinh nữ có nguồn gốc ở Brasil.

      Hoa bìm bịp



      [​IMG]

      Bìm bịp (bìm bìm) là loài hoa dại thường leo lên thân cây khác hay hàng rào để khoe sắc đẹp. Hoa hình chuông, mọc thành xim ở kẽ lá, với 1 - 3 bông. Hoa có thể đổi màu, từ sáng đến chiều, màu sắc chuyển từ lam nhạt sang hồng hoặc tím.
      Ở Nhật Bản, bìm bìm (bìm bịp) là cây cảnh rất được ưa chuộng, người ta đã tiến hành lai giống, tạo ra gần trăm loại khác nhau.

      Hoa bồ công anh


      [​IMG]
      Hoa bồ công anh
      [​IMG]
      Hạt bồ công anh


      [​IMG]
      Bồ công anh Việt Nam

      Bồ công anh (danh pháp khoa học: Taraxacum) là chi thực vật có hoa thuộc họ Cúc (Asteraceae), có nguồn gốc từ các khu vực ôn đới của Bắc Bán cầu trong Cựu Thế giới.
      Ở Viêt Nam có loài hoa thuộc chi Bồ công anh, có tên gọi: rau bồ cóc, diếp hoang, diếp dại, mót mét, mũi mác, diếp trời, rau mũi cày. Danh pháp khoa học: Pterocypsela indica.

      Hoa dã quỳ

      Dã quỳ còn được gọi là cúc quỳ, sơn quỳ, quỳ dại, hướng dương dại, hướng dương Mexico, cúc Nitobe. Danh pháp khoa học: Tithonia diversifolia. Là một loài thực vật trong họ Cúc (Asteraceae), hiện nay phân bổ rộng khắp trong các khu vực cận nhiệt đới và nhiệt đới, chẳng hạn như Trung Mỹ, Đông Nam Á và châu Phi. Phụ thuộc vào khu vực, nó có thể là cây một năm hay cây lâu năm, dạng cây bụi cao tới 2-3 m với thân cây mọc thẳng và đôi khi hóa gỗ. Hoa màu vàng cam.



      [​IMG]

      Tại Việt Nam, dã quỳ đã được người Pháp đưa vào các đồn điền ở Lâm Đồng. Nó được trồng khi đó để làm phân xanh cho các vườn cà phê, cao su. Thân dã quỳ chứa nhiều chất P, Ca, Mg nên làm phân hữu cơ khá tốt. Nhờ hạt dễ phát tán, cây dễ trồng nhờ giâm cành nên loài cây này dần dà chiếm lĩnh các nơi hoang dại ở khắp Tây nguyên. Tên dã quỳ xuất hiện trên văn chương từ thập niên 1970, trước đó người ta gọi nó là sơn quỳ. Dã quỳ cũng đã được sử dụng làm biểu tượng chính cho lễ hội hoa Đà Lạt tháng 12 năm 2005.
      Ở Việt Nam, dã quỳ thường ra hoa vào mùa đông, vàng rực cả triền đồi và thảo nguyên. Loài cây này có thể coi như là một loài cây báo hiệu cho sự xuất hiện của mùa khô, khi hoa dã quỳ nở có nghĩa là mùa khô đã đến rất gần. Lá của cây này còn sử dụng trong một bài thuốc dân gian để chữa bệnh ghẻ.

      Hoa lục bình


      [​IMG]

      Lục bình còn được gọi là Bèo tây, lộc bình hay bèo Nhật Bản, là một loài thực vật thủy sinh. sống nổi theo dòng nước, thuộc về chi Eichhornia của họ Họ Bèo tây (Pontederiaceae).Hoa màu tím rất đẹp và mong manh.
      Lục bình có xuất xứ từ châu Nam Mỹ, du nhập Việt Nam khoảng năm 1905, do đó trong tiếng Việt mới có tên bèo tây. Còn tên bèo Nhật Bản vì có người cho là mang từ Nhật về. Lộc bình do cuống lá phình lên giống lọ lộc bình.


      Lục bình mọc cao khoảng 30 cm với dạng lá hình tròn, màu xanh lục, láng và nhẵn mặt. Lá cuốn vào nhau như những cánh hoa. Cuống lá nở phình ra như bong bóng xốp ruột giúp cây bèo nổi trên mặt nước. Ba lá đài giống như ba cánh. Rễ bèo trông như lông vũ sắc đen buông rủ xuống nước, dài đến 1m.


      Lục bình nở hoa vào mua hè, sắc tím nhạt, điểm chấm màu lam, cánh hoa trên có 1 đốt vàng. Có 6 nhuỵ gồm 3 dài 3 ngắn. Bầu thượng 3 ô đựng nhiều noãn, quả nang. Dò hoa đứng thẳng đưa hoa vươn cao lên khỏi túm lá.


      Hoa lục bình có tác dụng khử ô nhiễm môi trường do nó có thể hấp thụ các loại kim loại nặng. Người ta còn sử dụng lục bình để làm thức ăn cho gia súc, ủ phân chuồng hoặc sử dụng trong công nghiệp chế biến thủ công mỹ nghệ. Ngoài ra lục bình còn được coi như một vị thuốc trong y học dân gian.

      Hoa trái nổ



      [​IMG]

      Cây trái nổ có tên tiếng Anh là "Ruellia tuberosa".

      Cây thảo cao 20-50cm tới 80cm. Rễ củ tròn dài, màu vàng nâu, mọc thành chùm. Thân vuông có lông, phù to trên mắt. Lá mọc đối, hình bầu dục, mặt trên có lông thưa, mép có rìa lông cứng. Cụm hoa hình xim ở nách lá hoặc ở ngọn thân. Hoa to màu xanh tím. Quả nang, khi chín có màu nâu đen. Khi quả bị ướt, nó nổ ra bắn tung ra bên ngoài những hạt đen, dẹt.

      Loài của Mỹ châu nhiệt đới, truyền vào nước ta và nay mọc hoang dại ở các bãi cỏ, ven đường đi nhiều nơi, từ Hà Nội, Hải Phòng đến thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Cây thường phát tán nhanh. Thu hái toàn cây quanh năm, dùng tươi hay phơi khô, người ta cũng thường hay dùng rễ. Rễ nhiều, xếp thành bó, có màu vàng nâu, phình thành củ, ít khi dẹp lại ở đầu mút. Củ to có phần phình mang những đốt và vòng giống như rễ cây Ipêca.

      Cây được dùng chữa sốt gián cách, ho gà, viêm màng bụng khi đẻ và cũng dùng trị cảm nóng và cảm lạnh. Dân gian thường dùng rễ củ nấu nước uống làm thuốc bổ mát (nên có tên gọi là Sâm tanh tách) và cũng dùng chữa bệnh về thận và sỏi bàng quang.

      Hoa sim



      [​IMG]
      Sim hay hồng sim (Rhodomyrtus tomentosa) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Myrtaceae, có nguồn gốc bản địa ở khu vực Nam và Đông Nam Á. Loài này thường mọc ở ven biển, trong rừng tự nhiên, ven sông suối, trong các rừng ngập nước, rừng ẩm ướt, và tại độ cao đến 2400 m so với mực nước biển.

      Người ta hay nhầm lẫn cây sim với một loài cây dại khác là cây mua. Để phân biệt được hai loài cây này, hãy nhìn kỹ vào lá, lá cây mua không có nhiều gân mà có gân lớn dọc theo lá.

      Hoa thường nở rộ vào mùa hè với màu tím. Hoa sim là biểu tượng mà nhiều đôi trai gái miền quê dùng để bày tỏ tình cảm và cũng là biểu tượng của sự chung thủy.


      Hoa sim cánh mỏng màu hồng tím nhạt, nhìn tựa hoa mai nụ hoa giống hoa đào bông nhỏ... lá trơn có quả ăn được.


      Toàn bộ cây sim đều dùng làm thuốc: rễ chữa bệnh đau tim, lá chỉ đau, tán nhiệt độc, cầm huyết, sinh da non; quả ăn được; nụ chữa tiêu chảy…

      Hoa mua



      [​IMG]

      Hoa mua (Melastoma candidum) có màu tím rất đẹp, thuộc chi Mua, họ Mua (Melastomataceae), có khoảng 50 loài phân bổ khắp Đông Nam Á, Ấn Độ và Australia. Cây mua có nhiều loại như loại hoa màu hồng tím (dã mẫu đơn), loại hoa màu đỏ (mua leo), loại hoa màu hồng (mua núi) và cây mua đỏ (mua ông), cũng được dùng để chữa bệnh tront Y học dân gian, thường chữa mụn nhọt, vết thương sưng tấy hoặc tụ huyết, ...


      Cây hoa mua là loài chỉ thị đất chua phèn, có thể thấy mọc hoang khắp các miền Bắc Nam. Người Trung Quốc, người Nhật Bản đều gọi hoa mua là mẫu đơn dại (dã mẫu đơn, nobotan).

      Hoa cúc dại (xuyến chi)




      [​IMG]
      Hoa cúc dại (Xuyến chi) [​IMG]
      Hạt của cây xuyến chi

      Xuyến chi (tên khoa học: Bidens pilosa) là một loài thuộc họ cúc, chi Bidens. Cây xuyến chi thuộc dạng hoang dại mọc ở những nơi không gian thoáng. Cây cao chừng 0,3m đến 0,4m. Cành rậm thường mọc theo từng nhóm. Vào mùa xuân có hoa, sau đó các nhụy hoa có hạt trong mỗi nhụy, đầu nhụy có các múi gai. Các nhụy này di chuyển theo gió hoặc có một con vật, cả con người các nhụy này có các múi gai bám chặt vào. Di chuyển đến những nơi gặp điều kiện thuận lợi thì sinh trưởng tiếp theo.

      Trong tiếng Việt, đôi khi có sự nhầm lẫn hoa này với hoa cứt lợn.

      Hoa thơmổi


      [​IMG]

      Hoa thơm ổi, còn gọi là hoa trâm ổi hay ngũ sắc, tên khoa học là Lantana camara L.(Lantanier), thuộc họ cỏ roi ngựa. Cây có nguồn gốc từ Trung Nam Mỹ, được nhập vào VN thế kỷ 19, trồng làm cảnh. Đến nay cây đã phổ biến rộng rãi, mọc hoang ở các bãi đất trống, đồi núi, ven biển.

      Hoa có nhiều màu sắc nên được dân gian đặt tên là hoa ngũ sắc, nở suốt 4 mùa nên còn gọi là tứ quý hay tứ thời.Lá cây có mùi thơm của ổi nên còn gọi là trâm ổi, bông ổi hay thơm ổi.

      Cây cao từ 1,5-2 mét, hay có thể hơn một chút. Thân có gai, cành dài hình vuông có gai ngắn và lông ráp. Lá mọc đối, khía răng, mặt dưới có lông. Cụm hoa là những bông co lại thành dầu giả mọc ở nách các lá ở ngọn. Hoa lưỡng tính, không đều, thoạt tiên vàng lợt rồi vàng kim, vàng tươi, sau cùng đỏ chói, ít khi toàn hoa trắng. Quả hạch hình cầu nằm trong lá dài, khi chín màu đen, nhân gồm 1-2 hạt cứng, xù xì.


      Tổng hợp: Thúy Nguyễn

      Nguồn: Nhavuonmientay.com, Wikipedia.org.

      http://datvietflower.com/vietnam/4/71/muon-sac-hoa-dai
      --- @ 21/4/15 ---
      [​IMG]
      Hoa dại ven đường. Ảnh: Nguyễn Hà Hải

      [​IMG]
      Hoa dại ven đường. Ảnh: Đoàn Thị Khánh Toàn

      [​IMG]
      Hoa dại ven đường. Ảnh: Đoàn Thị Khánh Toàn

      [​IMG]
      Hoa dại ven đường. Ảnh: Đoàn Thị Khánh Toàn

      [​IMG]
      Lan rừng. Ảnh: Nguyễn Hà Hải
       

      Các file đính kèm:

      Loan Nguyenculam thích bài này.
      Đang tải...
    2. hongtam

      hongtam Nhà nông chính hiệu

      Bài viết:
      63
      Đã được thích:
      34
      Hoa chua me đất
      [​IMG]Hoa chua me đất vàng
      [​IMG]Hoa chua me đất hồng
      Ở nước ta thường gặp 3 loài chua me đất mọc hoang: chua me núi (oxali acetosella L.) có hoa trắng vân hồng, chua me đất hoa hồng (Oxilis corymbossa DC) và chua me đất hoa vàng (Oxalis corniculata L.). Trong các loài nói trên, cây hoa vàng thường hay gặp nhất, cũng như hay được sử dụng làm thuốc nhất

      Hoa cứt lợn
      [​IMG]
      [​IMG]
      Cứt lợn hay còn gọi là cây hoa ngũ sắc, cây hoa ngũ vị, cỏ hôi (tên khoa học Ageratum conyzoides, Ageratum conycoides L., Ageratum obtusifolium Lam., Cacalia mentrasto Vell.) là một loài cây thuộc họ Cúc. Cây thường được dùng như một loài cây thuốc.

      Đôi khi hoa xuyến chi, một cây thuộc họ Cúc khác, cũng được gọi là cứt lợn.

      Cây được dùng làm thuốc trị nhiều bệnh như: phụ nữ rong huyết sau sinh, viêm xoang dị ứng, kết hợp với bồ kết để gội đầu, sốt rét, đau nhức...

      Hoa điên điển
      [​IMG]

      Hoa so đũa
      upload_2015-4-21_20-47-51.jpeg
      [​IMG]

      [​IMG]

      [​IMG]

      [​IMG]

      [​IMG]
       

      Các file đính kèm:

    Chia sẻ trang này

    Đang tải...
    Đang tải...