ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TỔ SẢN XUẤT TẬP THỂ VÀ HỢP TÁC XÃ GẮN VỚI SM4AT TRÊN NỀN TẢNG TƯ DUY BQV FRESH 4.0
Đồng thời, SM4AT sẽ được đặt đúng vai trò là một mô hình sản xuất có thể tích hợp vào HTX, chứ không phải công nghệ phải đưa vào ngay từ đầu.
Nguồn : Tác giả Bùi Quang Võ
Một số đề án thường bắt đầu bằng:
Thành lập HTX → vận động thành viên → góp vốn → mua máy móc → tìm thị trường.
Cách làm này có thể khiến người dân lo ngại:
Thấy việc → làm thử → có tiền thật → công khai kết quả → hình thành lòng tin → lập tổ → liên kết nhiều tổ → khi đủ điều kiện mới thành lập HTX.
Đây là nguyên tắc:
Có thể bắt đầu bằng:
5–7 người → 10–15 người → 20–30 người → nhiều tổ → HTX.
Mỗi bước phải chứng minh được một giá trị cụ thể.
Có việc làm → có thu nhập → giảm chi phí → bán được sản phẩm → có người hỗ trợ.
Sau đó mới hình thành:
Niềm tin → kỷ luật → trách nhiệm → hợp tác → tổ chức.
Người ít nguồn lực thường không sợ làm việc khó bằng sợ mất số tiền ít ỏi họ đang có.
Vì vậy, giai đoạn đầu:
Hãy tìm người:
5 người × 20 ngày = 100 ngày công/tháng.
Không cần xây xưởng lớn.
Có thể tận dụng:
Mục tiêu là trả lời 5 câu hỏi:
Có làm được không?
Làm ra bao nhiêu?
Chi phí bao nhiêu?
Bán cho ai?
Người lao động thực nhận bao nhiêu?
Ai làm → làm bao nhiêu → ngày nào → chất lượng thế nào.
Thu bao nhiêu → chi bao nhiêu → còn bao nhiêu → mỗi người được bao nhiêu.
Mua nguyên liệu → sơ chế → hao hụt → thành phẩm → bán ra.
Chỉ cần ba cuốn sổ này được duy trì minh bạch, cộng đồng đã có một nền tảng quản trị tốt hơn rất nhiều so với việc chỉ nói “HTX hoạt động minh bạch”.
Một người hỏi:
Không nên trả lời:
Mà nên trả lời:
Đó là cách hạ thấp cảm giác rủi ro.
Khi chưa có hợp đồng thật, không nên dùng từ “bao tiêu chắc chắn”.
Nên nói:
Điều này giúp bảo vệ uy tín lâu dài.
Một cuộc họp đầu tiên chỉ cần một bảng:
Sau 30 ngày, chính bảng này mới là tài liệu thuyết phục mạnh nhất.
Tuy nhiên, không nên xây dựng cả HTX chỉ dựa vào một loại nguyên liệu.
Có thể hình thành chuỗi:
Thu gom → sơ chế → phơi → phân loại → đóng gói → bán nguyên liệu → thủ công mỹ nghệ → tận dụng phụ phẩm.
Sau khi tổ chức ổn định có thể mở rộng sang:
Nông nghiệp → thủy sản → SM4AT → dịch vụ → chế biến → thương mại địa phương.
Như vậy, lục bình chỉ là “cửa vào sinh kế”, không phải toàn bộ hệ sinh thái.
300 kg/ngày/người, 450–500 kg/ngày/người, 12–13 kg tươi → 1 kg khô, 20.000–32.000 đồng/kg...
Chỉ nên dùng như số liệu khảo sát hoặc kịch bản thử nghiệm, không được trình bày như năng suất hay giá cố định áp dụng cho mọi địa phương.
BQV Fresh 4.0 nên sử dụng 3 mức:
Ví dụ:
Mà nói:
Đây là cách bảo vệ niềm tin của cộng đồng.
Không nên chia đều tất cả.
Có thể phân biệt:
Tiền công → trả theo sản lượng hoặc ngày công.
Thưởng chất lượng → trả theo chất lượng sản phẩm.
Lợi nhuận → phân phối theo nguyên tắc được thành viên thống nhất và phù hợp quy định HTX.
Quỹ chung → giữ lại một phần để tái đầu tư và dự phòng.
Người làm nhiều phải thấy:
Nếu không giải quyết được tâm lý này, rất khó giữ thành viên lâu dài.
Có thể chia thành các nhóm:
Quỹ tái đầu tư.
Quỹ dự phòng kinh doanh.
Quỹ đào tạo.
Quỹ phúc lợi hoặc hỗ trợ cộng đồng, nếu điều lệ và pháp luật cho phép.
Mọi khoản thu – chi cần được ghi chép và công khai theo quy chế của tổ/HTX.
Đặc biệt:
Chỉ cần một vụ việc thiếu minh bạch xảy ra, niềm tin xây dựng trong nhiều tháng có thể mất chỉ trong vài ngày.
Chỉ nên chuyển sang HTX khi tổ đã chứng minh được ít nhất:
Có sản phẩm.
Có người làm.
Có khách hàng.
Có dòng tiền.
Có người biết quản lý.
Có quy chế.
Có khả năng ghi chép.
Có sự đồng thuận.
Lúc này HTX không còn là:
Mà trở thành:
Đây là khác biệt rất lớn.
Tư duy cốt lõi là:
Địa hình → Nước → Sinh học → Sản xuất → Thu nhập → Dữ liệu.
Không nhất thiết phải bắt đầu bằng máy móc đắt tiền.
Có thể bắt đầu từ:
Ao có sẵn → cải tạo → tạo môi trường → đa tầng → đa loài → tận dụng phụ phẩm → giảm chi phí → ghi chép → tối ưu dần.
Đối với cộng đồng ít nguồn lực, đây chính là tinh thần:
Có thể thiết kế thành hệ sinh thái tuần hoàn địa phương:
Sông rạch
↓
Nguồn nguyên liệu
↓
Tổ thu gom – sơ chế
↓
HTX chế biến
↓
Phụ phẩm
↓
Nông nghiệp
↓
Ao sinh thái SM4AT
↓
Thủy sản
↓
Rau – cây – vật nuôi
↓
Thực phẩm
↓
Phân hữu cơ / vật liệu
↓
Quay trở lại sản xuất.
Đây mới là tinh thần BQV Fresh 4.0: không nhìn từng thứ riêng lẻ mà nhìn dòng vật chất – dòng nước – dòng tiền – dòng lao động – dòng dữ liệu trong cùng một hệ thống.
1 sản phẩm chủ lực.
1 khu vực nhỏ.
1 quy trình đơn giản.
Mục tiêu:
Không lỗ lớn – không vay lớn – có sản phẩm – có người mua.
Bắt đầu:
Sổ sách – quy chế – phân công – kiểm soát chất lượng – quỹ chung.
Nguồn nguyên liệu → sản xuất → khách hàng → dòng tiền.
Không mở rộng quá nhanh.
Tổ sản xuất → nhiều tổ → HTX.
HTX tập trung vào những việc mà từng hộ làm riêng sẽ yếu:
Mua chung – bán chung – vận chuyển – tiêu chuẩn hóa – chế biến – thị trường – đào tạo.
Mô hình ao sinh thái.
Dữ liệu sản xuất.
Truy xuất nguồn gốc.
Quản lý tài nguyên nước.
AI hỗ trợ kỹ thuật và quản trị.
Liên kết giữa các HTX/tổ sản xuất.
Thông điệp gần gũi hơn là:
Và:
Điều quan trọng hơn là xây dựng được một hệ thống sinh kế cộng đồng có khả năng tự đứng vững.
Trình tự đúng nên là:
Nguồn lực địa phương
→ Một việc làm cụ thể
→ Một nhóm nhỏ
→ Một kết quả thật
→ Một dòng tiền minh bạch
→ Một niềm tin chung
→ Một tổ sản xuất
→ Nhiều tổ liên kết
→ Hợp tác xã
→ Chuỗi giá trị
→ SM4AT
→ BQV Fresh 4.0
→ Hệ sinh thái sinh kế địa phương.
Và nguyên tắc xuyên suốt là:
Tiểu: Bắt đầu nhỏ.
Nhuyễn: Linh hoạt xoay chuyển theo con người, địa hình, nước, mùa vụ và thị trường.
Cương: Khi đã chứng minh được hiệu quả thì xây dựng kỷ luật, quy chế và sức mạnh tập thể.
Không lấy HTX làm mục tiêu cuối cùng. Lấy một cộng đồng có sinh kế tốt hơn, tự chủ hơn và bền vững hơn làm mục tiêu.










Từ nguồn lực nhỏ – tổ chức nhỏ – sinh kế thật – đến hợp tác xã bền vững
HTX không nên được bắt đầu bằng việc đơn thuần là việc “vận động dân vào HTX”, mà phải bắt đầu bằng việc giúp một nhóm nhỏ bà con thấy rằng hợp tác với nhau có lợi hơn làm riêng.Đồng thời, SM4AT sẽ được đặt đúng vai trò là một mô hình sản xuất có thể tích hợp vào HTX, chứ không phải công nghệ phải đưa vào ngay từ đầu.
Nguồn : Tác giả Bùi Quang Võ
PHẦN I. ĐẶT LẠI VẤN ĐỀ: MUỐN CÓ HTX BỀN VỮNG, PHẢI XÂY LÒNG TIN TRƯỚC.
Ở những vùng nông thôn còn khó khăn, cộng đồng ít vốn, ít đất sản xuất và hạn chế về trình độ quản lý, khó khăn lớn nhất không phải là thiếu mô hình sản xuất mà là thiếu một cơ chế hợp tác mà người dân cảm thấy an toàn và có lợi ích thật.Một số đề án thường bắt đầu bằng:
Thành lập HTX → vận động thành viên → góp vốn → mua máy móc → tìm thị trường.
Cách làm này có thể khiến người dân lo ngại:
- Góp vốn rồi có mất không?
- Ai quản lý tiền?
- Sản phẩm làm ra bán cho ai?
- Nếu không bán được thì ai chịu?
- Người làm nhiều có được hưởng nhiều không?
- Ban quản trị có minh bạch không?
- Nếu tham gia rồi muốn rút thì sao?
- HTX có thực sự giúp mình hay chỉ thêm giấy tờ?
Thấy việc → làm thử → có tiền thật → công khai kết quả → hình thành lòng tin → lập tổ → liên kết nhiều tổ → khi đủ điều kiện mới thành lập HTX.
Đây là nguyên tắc:
“Đừng thuyết phục bà con bằng lời nói trước khi cho bà con nhìn thấy một kết quả nhỏ.”
PHẦN II. TRIẾT LÝ BQV FRESH 4.0 TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ
1. Nhỏ trước, lớn sau.
Không đặt mục tiêu ngay từ đầu phải có HTX vài chục hay vài trăm thành viên.Có thể bắt đầu bằng:
5–7 người → 10–15 người → 20–30 người → nhiều tổ → HTX.
Mỗi bước phải chứng minh được một giá trị cụ thể.
2. Lấy sinh kế làm điểm vào, không lấy tổ chức làm điểm vào.
Người dân tham gia vì:Có việc làm → có thu nhập → giảm chi phí → bán được sản phẩm → có người hỗ trợ.
Sau đó mới hình thành:
Niềm tin → kỷ luật → trách nhiệm → hợp tác → tổ chức.
3. Không bắt người nghèo hiểu họ là có thể là người chịu rủi ro của người tổ chức.
Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng.Người ít nguồn lực thường không sợ làm việc khó bằng sợ mất số tiền ít ỏi họ đang có.
Vì vậy, giai đoạn đầu:
- Không ép góp vốn lớn.
- Không mua máy móc lớn trước khi có đơn hàng.
- Không thuê nhà xưởng lớn trước khi có sản lượng.
- Không yêu cầu thành viên phải bỏ nghề cũ ngay.
- Không hứa mức thu nhập cố định khi chưa có dữ liệu.
- Không biến HTX thành nơi thu tiền của thành viên.
PHẦN III. LỘ TRÌNH 5 BƯỚC: TỪ MỘT NGƯỜI ĐẾN MỘT HTX
BƯỚC 1 – TÌM 3–5 NGƯỜI CÓ CÙNG NHU CẦU
Không cần tìm người “giỏi nhất”.Hãy tìm người:
- Chịu khó.
- Có uy tín.
- Giữ lời.
- Không ngại làm thử.
- Chấp nhận ghi chép.
- Không quá nóng vội.
- Có tinh thần giúp nhau.
BƯỚC 2 – LÀM MỘT MÔ HÌNH THỬ.
Ví dụ:5 người × 20 ngày = 100 ngày công/tháng.
Không cần xây xưởng lớn.
Có thể tận dụng:
- Xuồng ghe sẵn có.
- Sân phơi của hộ dân.
- Nhà kho bỏ trống.
- Dụng cụ địa phương.
- Lao động gia đình.
- Nguồn nước và nguyên liệu tại chỗ.
Mục tiêu là trả lời 5 câu hỏi:
Có làm được không?
Làm ra bao nhiêu?
Chi phí bao nhiêu?
Bán cho ai?
Người lao động thực nhận bao nhiêu?
PHẦN IV. “3 CUỐN SỔ” ĐỂ XÂY LÒNG TIN.
Một tổ sản xuất muốn phát triển thành HTX nên tập thói quen ghi chép ngay từ ngày đầu.SỔ 1 – SỔ SẢN LƯỢNG
Ghi:Ai làm → làm bao nhiêu → ngày nào → chất lượng thế nào.
SỔ 2 – SỔ TIỀN
Ghi:Thu bao nhiêu → chi bao nhiêu → còn bao nhiêu → mỗi người được bao nhiêu.
SỔ 3 – SỔ HÀNG HÓA
Ghi:Mua nguyên liệu → sơ chế → hao hụt → thành phẩm → bán ra.
Chỉ cần ba cuốn sổ này được duy trì minh bạch, cộng đồng đã có một nền tảng quản trị tốt hơn rất nhiều so với việc chỉ nói “HTX hoạt động minh bạch”.
PHẦN V. TÂM LÝ CỘNG ĐỒNG: KHÔNG ĐƯỢC ĐỐI ĐẦU VỚI SỰ NGHI NGỜ.
1. Người chưa tin không phải là người chống đối
Một người hỏi:
“Lỡ làm không được thì sao?”
Không nên trả lời:
“Chú không tin thì thôi.”
Mà nên trả lời:
“Chính vì chưa biết có làm được hay không nên mình chỉ làm thử nhỏ trước. Nếu không hiệu quả thì dừng, không để ai mất nhiều tiền.”
Đó là cách hạ thấp cảm giác rủi ro.
2. Không dùng khẩu hiệu “làm giàu”.
Thay bằng:Đây là thông điệp phù hợp hơn với cộng đồng ít nguồn lực.“Mình chưa cần làm giàu. Trước hết làm sao mỗi gia đình có thêm một khoản thu nhập đều đặn.”
3. Không nói “HTX sẽ bao tiêu”.
Khi chưa có hợp đồng thật, không nên dùng từ “bao tiêu chắc chắn”.
Nên nói:
“HTX sẽ tìm thị trường, đàm phán đơn hàng và tổ chức thu mua theo khả năng thực tế của thị trường.”
Điều này giúp bảo vệ uy tín lâu dài.
PHẦN VI. CÁCH TRUYỀN THÔNG: NÓI CHO DÂN HIỂU BẰNG MỘT TỜ GIẤY
Không nên đưa cho bà con một tài liệu vài chục trang ngay từ đầu.Một cuộc họp đầu tiên chỉ cần một bảng:
| Nội dung |
|---|
| Số người tham gia thử nghiệm |
| Thời gian thử |
| Ngày công |
| Sản lượng |
| Chi phí |
| Doanh thu |
| Thu nhập/người |
| Lãi tổ |
| Tiền giữ lại |
[th]
Số liệu thực tế
[/th]
[td]
5–7 người
[/td]
[td]
30 ngày
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
Số liệu thực tế
[/th]
[td]
5–7 người
[/td]
[td]
30 ngày
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
[td]
Ghi thực tế
[/td]
Sau 30 ngày, chính bảng này mới là tài liệu thuyết phục mạnh nhất.
PHẦN VII. MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH: LỤC BÌNH – NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC CHỈ NHÌN LỤC BÌNH.
Lục bình có thể trở thành một điểm khởi đầu để hình thành tổ sản xuất nếu địa phương thực sự có nguồn nguyên liệu, người thu hoạch, nơi sơ chế và thị trường.Tuy nhiên, không nên xây dựng cả HTX chỉ dựa vào một loại nguyên liệu.
Có thể hình thành chuỗi:
Thu gom → sơ chế → phơi → phân loại → đóng gói → bán nguyên liệu → thủ công mỹ nghệ → tận dụng phụ phẩm.
Sau khi tổ chức ổn định có thể mở rộng sang:
Nông nghiệp → thủy sản → SM4AT → dịch vụ → chế biến → thương mại địa phương.
Như vậy, lục bình chỉ là “cửa vào sinh kế”, không phải toàn bộ hệ sinh thái.
PHẦN VIII. NGUYÊN TẮC VỀ CON SỐ.
Các con số như:300 kg/ngày/người, 450–500 kg/ngày/người, 12–13 kg tươi → 1 kg khô, 20.000–32.000 đồng/kg...
Chỉ nên dùng như số liệu khảo sát hoặc kịch bản thử nghiệm, không được trình bày như năng suất hay giá cố định áp dụng cho mọi địa phương.
BQV Fresh 4.0 nên sử dụng 3 mức:
Mức A – Thận trọng
Dùng để lập kế hoạch tài chính.Mức B – Thực tế
Dùng khi đã có dữ liệu 3–6 tháng.Mức C – Tốt
Dùng để đánh giá tiềm năng khi điều kiện thuận lợi.Ví dụ:
Không nói: “Một người chắc chắn kiếm 450.000 đồng/ngày.”
Mà nói:
“Trong mô hình thử nghiệm, năng suất và thu nhập sẽ được ghi nhận theo từng người. Sau 30–90 ngày mới xác định mức bình quân thực tế.”
Đây là cách bảo vệ niềm tin của cộng đồng.
PHẦN IX. CƠ CHẾ TIỀN BẠC: NGƯỜI LÀM NHIỀU HƯỞNG NHIỀU.
Đây là điểm sống còn.Không nên chia đều tất cả.
Có thể phân biệt:
Tiền công → trả theo sản lượng hoặc ngày công.
Thưởng chất lượng → trả theo chất lượng sản phẩm.
Lợi nhuận → phân phối theo nguyên tắc được thành viên thống nhất và phù hợp quy định HTX.
Quỹ chung → giữ lại một phần để tái đầu tư và dự phòng.
Người làm nhiều phải thấy:
“Tôi vào HTX không bị thiệt hơn làm riêng.”
Nếu không giải quyết được tâm lý này, rất khó giữ thành viên lâu dài.
PHẦN X. QUỸ HTX: KHÔNG ĐƯỢC ĐỂ “QUỸ” TRỞ THÀNH NỖI SỢ.
Quỹ phải có mục đích rõ ràng.Có thể chia thành các nhóm:
Quỹ tái đầu tư.
Quỹ dự phòng kinh doanh.
Quỹ đào tạo.
Quỹ phúc lợi hoặc hỗ trợ cộng đồng, nếu điều lệ và pháp luật cho phép.
Mọi khoản thu – chi cần được ghi chép và công khai theo quy chế của tổ/HTX.
Đặc biệt:
Không dùng tiền chung cho lợi ích riêng của một vài người.
Chỉ cần một vụ việc thiếu minh bạch xảy ra, niềm tin xây dựng trong nhiều tháng có thể mất chỉ trong vài ngày.
PHẦN XI. TỪ TỔ SẢN XUẤT ĐẾN HTX
Không phải cứ có 10 người là lập HTX.Chỉ nên chuyển sang HTX khi tổ đã chứng minh được ít nhất:
Có sản phẩm.
Có người làm.
Có khách hàng.
Có dòng tiền.
Có người biết quản lý.
Có quy chế.
Có khả năng ghi chép.
Có sự đồng thuận.
Lúc này HTX không còn là:
“Một tổ chức được thành lập trên giấy.”
Mà trở thành:
“Một hoạt động kinh tế đã tồn tại và cần một pháp nhân để tổ chức tốt hơn.”
Đây là khác biệt rất lớn.
PHẦN XII. TÍCH HỢP SM4AT: “NUÔI NƯỚC TRƯỚC – NUÔI CON SAU”
Khi HTX đã có nền tảng, SM4AT có thể trở thành một trong những mô-đun sản xuất quan trọng.Tư duy cốt lõi là:
Địa hình → Nước → Sinh học → Sản xuất → Thu nhập → Dữ liệu.
Không nhất thiết phải bắt đầu bằng máy móc đắt tiền.
Có thể bắt đầu từ:
Ao có sẵn → cải tạo → tạo môi trường → đa tầng → đa loài → tận dụng phụ phẩm → giảm chi phí → ghi chép → tối ưu dần.
Đối với cộng đồng ít nguồn lực, đây chính là tinh thần:
“Có gì dùng nấy, làm nhỏ trước, làm chắc trước, rồi mới nâng cấp.”
PHẦN XIII. MỐI QUAN HỆ GIỮA LỤC BÌNH – NÔNG NGHIỆP – SM4AT
Định hướng dài hạn không phải xây dựng những ngành nghề tách rời nhau.Có thể thiết kế thành hệ sinh thái tuần hoàn địa phương:
Sông rạch
↓
Nguồn nguyên liệu
↓
Tổ thu gom – sơ chế
↓
HTX chế biến
↓
Phụ phẩm
↓
Nông nghiệp
↓
Ao sinh thái SM4AT
↓
Thủy sản
↓
Rau – cây – vật nuôi
↓
Thực phẩm
↓
Phân hữu cơ / vật liệu
↓
Quay trở lại sản xuất.
Đây mới là tinh thần BQV Fresh 4.0: không nhìn từng thứ riêng lẻ mà nhìn dòng vật chất – dòng nước – dòng tiền – dòng lao động – dòng dữ liệu trong cùng một hệ thống.
PHẦN XIV. LỘ TRÌNH 36 THÁNG
0–3 THÁNG: LÀM THỬ
5–7 người.1 sản phẩm chủ lực.
1 khu vực nhỏ.
1 quy trình đơn giản.
Mục tiêu:
Không lỗ lớn – không vay lớn – có sản phẩm – có người mua.
4–6 THÁNG: HÌNH THÀNH TỔ
10–20 thành viên.Bắt đầu:
Sổ sách – quy chế – phân công – kiểm soát chất lượng – quỹ chung.
7–12 THÁNG: ỔN ĐỊNH CHUỖI GIÁ TRỊ
Tập trung:Nguồn nguyên liệu → sản xuất → khách hàng → dòng tiền.
Không mở rộng quá nhanh.
NĂM THỨ HAI: THÀNH LẬP HOẶC CỦNG CỐ HTX
Khi đủ điều kiện pháp lý và kinh tế:Tổ sản xuất → nhiều tổ → HTX.
HTX tập trung vào những việc mà từng hộ làm riêng sẽ yếu:
Mua chung – bán chung – vận chuyển – tiêu chuẩn hóa – chế biến – thị trường – đào tạo.
NĂM THỨ BA: TÍCH HỢP SM4AT VÀ BQV FRESH 4.0
Bắt đầu:Mô hình ao sinh thái.
Dữ liệu sản xuất.
Truy xuất nguồn gốc.
Quản lý tài nguyên nước.
AI hỗ trợ kỹ thuật và quản trị.
Liên kết giữa các HTX/tổ sản xuất.
PHẦN XV. 7 NGUYÊN TẮC “ĐẮC NHÂN TÂM” TRONG TỔ CHỨC HTX
1. Đừng bắt đầu bằng tiền góp.
Hãy bắt đầu bằng việc làm.2. Đừng nói lợi nhuận trước.
Hãy nói rủi ro trước.3. Đừng hứa thu nhập.
Hãy đưa ra cách đo thu nhập.4. Đừng nói HTX sẽ làm thay dân.
Hãy nói HTX giúp dân làm việc mà một hộ riêng lẻ khó làm được.5. Đừng coi người chưa tin là người chống đối.
Họ có thể đang bảo vệ gia đình mình khỏi rủi ro.6. Đừng mở rộng vì muốn có nhiều thành viên.
Chỉ mở rộng khi hệ thống đang hoạt động tốt.7. Đừng lấy công nghệ làm trung tâm.
Lấy con người – sinh kế – tài nguyên địa phương làm trung tâm.PHẦN XVI. THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG CỐT LÕI
Không nên nói với bà con:“Chúng ta sẽ xây dựng một HTX hiện đại, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ cao và phát triển chuỗi giá trị.”
Thông điệp gần gũi hơn là:
“Mình không cần làm chuyện lớn ngay. Trước hết 5–7 người cùng làm một việc nhỏ, ghi lại từng đồng tiền kiếm được và từng đồng tiền chi ra.
Nếu có lợi thì làm tiếp. Nếu chưa tốt thì sửa. Khi một nhóm làm được, nhóm khác mới làm theo. Khi nhiều nhóm cùng làm được, lúc đó HTX tự nhiên sẽ hình thành.”
Và:
“HTX không phải nơi bắt bà con góp tiền để làm một dự án của ai đó. HTX phải là nơi nhiều người cùng góp sức để làm được những việc mà một gia đình riêng lẻ khó làm.”
PHẦN XVII. KẾT LUẬN – HTX LÀ KẾT QUẢ, KHÔNG PHẢI ĐIỂM KHỞI ĐẦU
Theo định hướng BQV Fresh 4.0, phát triển kinh tế tập thể ở nông thôn khó khăn không nên được hiểu đơn giản là thành lập thêm một HTX.Điều quan trọng hơn là xây dựng được một hệ thống sinh kế cộng đồng có khả năng tự đứng vững.
Trình tự đúng nên là:
Nguồn lực địa phương
→ Một việc làm cụ thể
→ Một nhóm nhỏ
→ Một kết quả thật
→ Một dòng tiền minh bạch
→ Một niềm tin chung
→ Một tổ sản xuất
→ Nhiều tổ liên kết
→ Hợp tác xã
→ Chuỗi giá trị
→ SM4AT
→ BQV Fresh 4.0
→ Hệ sinh thái sinh kế địa phương.
Và nguyên tắc xuyên suốt là:
“Không bắt người nghèo đi theo một mô hình lớn. Hãy thiết kế một mô hình đủ nhỏ để người nghèo có thể bước vào, đủ thật để họ nhìn thấy kết quả, đủ minh bạch để họ tin tưởng, và đủ linh hoạt để cùng nhau lớn lên.”
BQV FRESH 4.0 – TIỂU, NHUYỄN, CƯƠNG
Tiểu: Bắt đầu nhỏ.
Nhuyễn: Linh hoạt xoay chuyển theo con người, địa hình, nước, mùa vụ và thị trường.
Cương: Khi đã chứng minh được hiệu quả thì xây dựng kỷ luật, quy chế và sức mạnh tập thể.
Không lấy HTX làm mục tiêu cuối cùng. Lấy một cộng đồng có sinh kế tốt hơn, tự chủ hơn và bền vững hơn làm mục tiêu.
Last edited: