Cây cảnh hải đăng

#1
CÂY CẢNH HẢI ĐĂNG
Cung cấp giống cây dược liệu quý, cây ăn quả, hoa cây cảnh để bàn
A: Dược liệu
1.Cây giống dây thìa canh trị bệnh tiểu đường
-Trà dây thìa canh khô
2.Cây cỏ ngọt phòng bệnh tiểu đường, béo phì,tim mạch
3.Cây trinh nữ hoàng cung hỗ trợ và điều trị ung thư cổ tử cung
4.Cây xạ can đặc trị viêm họng hạt
5.Cây nha đam
6.Sâm đất
7.Cúc mốc
8.Húng chanh
9.Cây xạ đen: phòng và trị các loại ung thư
10.Cây mía dò: Chữa cổ trướng
11.Cây dành dành trị viêm gan
12.Cây cúc hoa: Giúp sáng mắt
13.Cây đinh lăng: tăng lực
14:Cây râu mèo: cây cảnh đẹp-vị thuốc quý
15.Sa nhân
16.Ba kích
17.Hà thủ ô
18.Thổ tam thất
19.Sâm đại hành
20.Bạc thau
21.Bạch hoa xà
B:Cây ăn quả
1.Cây chanh đào, tứ quy, chanh leo, chanh không hạt
2.Ổi tứ quy đài loan, đông dư
3.Cây giống cây phật thủ
4.Bầu hồ lô
5.Cây giống cà chua bi, đậu rồng thái

C:Cây cảnh
1.Hoa súng thái lan-hoa sen nhật, hoa sen cung đình nở hoa quanh năm
2.Chậu hoa sống đời
3.Chậu hoa đá
4.Sen cạn, cẩm cù, lan hạt dưa....
4.Chậu hoa mười giờ mĩ màu trắng
5:Kim phát tài
6. Lan ý
7. Hoa sim
8.Hoa hồng thơm
9. Hoa hồng tỉ muội

D:Hạt giống rau,hoa,quả: cà chua bi, hồ lô, củ cải đỏ, măng tây, su hào tím...

E: Thảo dược khô
1.Trà dây thìa canh khô
2.Cỏ ngọt khô: 80 000/kg
3.Giảo cổ lam: 90 000/kg
4.Diệp hạ châu: 75 000/kg
5.Sâm đại hành
6.Kim tiền thảo

Dt:01659642916

Dc:Thạch bàn-long biên-hà nội:

TRANG WEB: https://sites.google.com/site/caycanhhaidang/



[/url]
Anh chau hoa
[/IMG]

[/url]
[/IMG]
 

Last edited:
#2
Dây thìa canh - cây thuốc quý trị bệnh tiểu đường

Cùng với sự phát triển của đời sống, số người mắc bệnh tiểu đường gia tăng nhanh chóng, thực sự trở thành mối lo ngại rất đáng báo động trên phạm vi toàn thế giới.

Theo điều tra xã hội học toàn quốc năm 2002, tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường của người từ 30 tuổi đến 64 tuổi của Việt Nam là 2,7% (gần 2 triệu người), riêng khu vực thành thị tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường là 4,4%, trong đó tỷ lệ bệnh nhân chưa chẩn đoán bệnh và điều trị là 64,6%.

Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh dễ gây ra những biến chứng nguy hiểm, 44% người bệnh tiểu đường ở nước ta bị biến chứng thần kinh, 71% biến chứng về thận, 8% bị biến chứng về mắt, ngoài ra còn các biến chứng về tim mạch, khớp… Các biến chứng này thường tạo nên các di chứng nguy hiểm có thể dẫn đến tàn phế suốt đời hoặc tử vong.

Dây thìa canh - Cây thuốc quý

Dây thìa canh, có tên khoa học là gymnema sylvestre, một loại cây dây leo, thân gỗ, được sử dụng tại Ấn Độ, Trung Quốc hơn 2.000 năm nay để trị bệnh nước tiểu ngọt như mật, nó còn có tên Gurmar, có nghĩa là kẻ hủy diệt đường. Dây thìa canh được biết đến và sử dụng rộng rãi tại nhiều nước như Ấn Độ với tên Diabeticin, Mỹ với tên Sugarest, Singapore với tên Glucos care, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia…

Hoạt chất chính trong Dây thìa canh là gymnemic acid, với cơ chế tác dụng của đã được xác định là tăng tiết insulin của tuyến tụy, tăng cường hoạt lực của insulin, ức chế hấp thu glucose ở ruột, làm tăng hoạt tính của men hấp thu và sử dụng đường, giảm cholesterol và lipid máu.

Đến nay đã có khoảng 70 nghiên cứu về dây thìa canh trên thế giới, bao gồm cả nghiên cứu trên động vật và người, các nghiên cứu đã cho thấy tác dụng giảm đường huyết rất rõ rệt của dây thìa canh.

Dây thìa canh tại Việt Nam

Tại Việt Nam , từ năm 2006 các nhà khoa học thuộc trường Đại học Dược Hà Nội do tiến sỹ Trần Văn Ơn, phụ trách bộ môn Thực vật chủ trì đã lần đầu tiên điều tra phát hiện dây thìa canh tại một số tỉnh miền Trung và miền Bắc Việt Nam . Nhận thấy đây là cây thuốc quý, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập mẫu, phân loại, nghiên cứu thành phần hóa học, tổ chức nuôi trồng để tạo nguồn dược liệu sạch, ổn định để sản xuất sản phẩm phục vụ người bệnh sản phẩm dạng viên nang tiện dùng cho người bệnh.

Kết quả nghiên cứu đề tài được công bố trên tạp chí Dược học - Bộ y tế số 391 tháng 11/2008 cho thấy dây thìa canh tại Việt Nam cũng cho tác dụng hạ đường huyết như dây thìa canh ở nhiều nước khác. Tác dụng hạ đường huyết của dây thìa canh có những điểm tương đống như insulin nhanh: đỉnh tác dụng hạ đường huyết ở 2h và duy trì đến 4h; mức độ hạ đường huyết tương đương ở thời điểm 2h và 4h. Ngoài ra trên một số nghiên cứu khác cho thấy tác dụng giảm cholesterol máu giảm béo phì cũng rất hiệu quả.

Như vậy dây thìa canh có thể ứng dụng điều trị cho cả bệnh nhân tiểu đường týp 1 hoặc týp 2 phối hợp với các thuốc điều trị khác để kiểm soát và làm giảm đường huyết, ổn định kéo dài hàm lượng đường huyết, phòng ngừa biến chứng, giảm cholesterol và lipid trong máu, nâng cao đời sống tình dục của bệnh nhân tiểu đường nam giới. Hiệu quả sẽ rất khả quan đạt được sau đợt dùng 2-3 tháng, kết hợp với chế độ ăn uống và tập thể dục đều đặn.

Có thể nói việc tìm ra cây dây thìa canh tại Việt Nam - một dược liệu quý hiếm, phòng ngừa và hỗ trợ điều trị tiểu đường và mỡ máu, mở ra triển vọng lớn ứng dụng các cây thuốc quý Việt Nam cho sức khỏe con người - một hướng giải pháp an toàn lâu dài cho bệnh nhân tiểu đường luôn sống vui khỏe.
 
#3
Cây hoàn ngọc trắng
Cây hoàn ngọc trắng còn gọi là cây xuân hoa, cũng thuộc loại cây bụi, phân nhiều cành, có chiều cao khoảng 1- 2m, lá mọc đối, hình mũi mác, đầu lá nhọn, thường xuyên xanh cả hai mặt. Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành có mầu trắng pha tím. Khi nhấm, lá có dịch nhầy nhớt. Vị thuốc là lá của cây hoàn ngọc trắng. Hoàn ngọc trắng cũng mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi để làm thuốc. Hoàn ngọc trắng cũng được dùng để trị các bệnh viêm nhiễm đường tiêu hóa, rối loạn tiêu hóa... Trên thực tế, hoàn ngọc trắng dùng trị viêm đại tràng thể nhiệt, tốt hơn như táo bón, đau bụng, trĩ xuất huyết. Có thể dùng lá tươi, rửa sạch, ăn sống hoặc sắc lấy nước uống, ngày 8-10g.
Để trị viêm loét dạ dày, tá tràng, xuất huyết đường tiêu hóa, trĩ nội, có thể dùng hoàn ngọc trắng, ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 8 - 10g. Dùng liền 2 tuần lễ.
Ngoài ra có thể dùng trị các vết thương khi té ngã bị chảy máu, tụ máu, lở loét... Lấy lá tươi, rửa sạch, giã dập, đắp bó vào nơi bị đau.
 
#4
Nói đến chè xanh, chúng ta đều vô cùng quen thuộc, nhưng để hiểu hết về tác dụng phòng và chữa bệnh của nó thì không phải ai cũng biết hết, vì thế trong bài viết này chúng tôi xin cung cấp những thông tin cần thiết về tác dụng chữa bệnh của lá chè xanh để bạn đọc tham khảo và áp dụng.
Uống chè xanh chữa bệnh gì?
- Cảm mạo: Dùng 3g lá chè, 1g muối ăn, hãm nước sôi uống 4-6 lần trong một ngày, hợp với những người bị cảm sốt, ho có đờm vàng, đau họng.
Nếu cảm sợ lạnh, ho có đờm trắng thì dùng 3g lá chè, 3 miếng gừng đem hãm với nước sôi uống.
- Phong nhiệt, đau đầu: Đau đầu, thậm chí đau như búa bổ, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng khát, nước tiểu vàng, dùng 6g lá chè, 10g hoa cúc, hãm với nước sôi, ngày uống 2-3 lần.
- Trúng nắng (cảm nắng): 6g lá chè, 6g đạm trúc diệp, hãm với nước sôi, một lúc sau uống nóng, mỗi ngày 2-3 lần, dùng cho người bị chứng bệnh thử nhiệt tân phiền, miệng khát thích uống nước, đi tiểu ít, nước tiểu vàng.
- Đi tả dài ngày: Đi tả lâu chưa khỏi, dùng 6g lá chè, 2 quả ô mai, 15g đường đỏ, hãm với nước sôi đậy kín nắp sau 15 phút thì uống, mỗi ngày 2-3 lần, liên tục trong 3 ngày.
- Ăn không tiêu: Lấy 10g lá chè, 10g bột sơn trà đã sao, 10g đường đỏ, đổ nước sôi vào hãm, 10 phút sau uống, có thể hỗ trợ trị bệnh ăn không tiêu, đầy, đau bụng, ợ chua, ăn kém.
- Hen suyễn: Những người bị hen suyễn lâu ngày chữa không khỏi, có thể dùng 3g mộc nhĩ trắng, 10g hạnh đào, 30g đường phèn, đổ nước vào đun cho đến khi mộc nhĩ chín nhừ, đổ vào nước chè đã hãm (30g lá chè), ngày uống một lần, uống liên tục 7-10 ngày.
- Bệnh lao hạch: Lấy 3-5g lá chè xanh, hãm uống một lần, ngày hai lần, uống kiên trì thường xuyên sẽ có tác dụng hỗ trợ điều trị.
- Bệnh viêm gan vàng da, vàng mắt cấp tính: Lấy một nắm chè, hãm với nước sôi uống ngày nhiều lần, chè có tác dụng lợi tiểu, trừ thấp làm cho bệnh vàng da vàng mắt lui dần.
- Bệnh cholesterol trong máu cao: Lấy một nắm chè hãm với nước sôi uống, ngày uống 2-3 lần.
- Bệnh béo phì: 3g lá chè, 10g quyết minh tử hãm uống hoặc đun lên uống.
- Viêm đường tiết niệu: Lá chè có tác dụng lợi tiểu, kiềm chế vi khuẩn, đồng thời tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, do đó uống nước chè vừa phải có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh viêm nhiễm hệ tiết niệu. Có thể dùng kết hợp với kim tiền thảo có tác dụng lợi thủy thông niệu, mỗi lần 6g, hãm với nước sôi uống, có hiệu quả cao.
- Phụ nữ đau bụng kinh: 3g lá chè, 2 miếng gừng, 10g đường đỏ, hãm với nước sôi 5 phút, uống sau bữa ăn.
- Đau bụng, đau răng: 3g lá chè hãm với nước sôi 5 phút sau rót lấy nước rồi đổ vào 3g giấm đã làm lâu, đảo đều rồi uống, ngày 3 lần.
Lá chè xanh chữa bệnh ngoài da
- Bị bỏng: Lấy nước chè nguội ngâm vết bỏng hoặc dùng vải mỏng nhúng vào nước chè nguội rồi đắp vào chỗ bỏng hoặc vẩy nước chè đặc nguội vào chỗ bỏng, sẽ giảm đau đớn, phòng ngừa bị phồng da, giúp vết bỏng mau lên da non.
- Bị ong đốt: Lấy một ít bã chè đã hãm một lần, xát vào chỗ bị ong đốt, hoặc lấy lá chè giã nát đắp vào chỗ đau.
- Bệnh đậu mùa, thủy đậu, mẩn ngứa, mụn nhọt: Đem lá chè nghiền thành bột, hòa với nước chè đặc đắp vào chỗ đau hoặc thường xuyên dùng nước chè đặc để tắm, rửa chỗ đau.
- Viêm da do lội ruộng (nước ăn chân): 400g lá chè già, 60g phèn chua, đổ vào nước đun thành nước đặc, để nguội bôi vào chỗ đau.


Trà xanh.
- Da bị nẻ: Trước khi đi ngủ lấy một dúm chè nhỏ nhai nát, nhuyễn thì đắp vào chỗ nẻ, rồi lấy băng buộc vào, sáng hôm sau thì bỏ ra.
- Da bị lở loét: Dùng chè vụn đun lấy nước rửa lúc nước chè còn ấm, hoặc dùng lá chè vụn đắp vào chỗ đau.
- Da bị cháy nắng: Dùng nước chè lạnh rửa lên chỗ da bị cháy nắng. Nếu da bị cháy nắng nhiều có thể cho nước chè đặc vào nước tắm. Ngâm chỗ da bị cháy nắng vào nước đó, mấy phút sau thì lau khô rồi bôi giấm vào sẽ thấy hiệu quả.
- Tóc thưa: thường xuyên dùng bàn chải chấm vào nước chè để qua đêm rồi chải lên lông mày hoặc chỗ tóc thưa.
- Viêm kết mạc cấp tính: Dùng 5-10g lá chè, sau khi đun sôi thì xông hơi vào mắt bị viêm, ngày 2-3 lần.
- Đau răng, nhiệt miệng: Thường xuyên dùng nước chè súc miệng, triệt để lợi dụng tác dụng diệt khuẩn tiêu viêm, sinh cơ của lá chè để trị bệnh đau răng và nhiệt miệng.
- Lỗ đeo khuyên tai bị viêm (còn gọi nên tổ kén): Bỏ khuyên tai ra, dùng cồn hoặc nước muối nhạt rửa sạch, lấy cuộng lá chè to vừa lỗ khuyên tai xuyên thay khuyên tai, chứng viêm ngứa hôm sau sẽ khỏi.
 
#5
CÂY PHẬT THỦ - CÂY CẢNH TÂM LINH .

Thông tin chi tiết
Ngày nay cây phật thủ ít tìm thấy dạng hoang dại ở Trung Quốc ( Dragaxep-1966 ) , nhưng Ơ Việt nam cây phật thủ thường mọc hoang dại ở ven suối , chân đồi , ven rừng nơi gần đường phân thủy thuộc các tỉnh Tuyên Quang , Hà giang , Phú Thọ , Lạng Sơn , Hòa bình …Tiếng Nga goị cây phật thủ là “Pyka бyды “- Ruka-Budưi”; tiếng Anh là Finger Cỉtron ; Tiêng Trung Quốc – fu sòy , còn việt nam ta gọi là Tay -Phật “ Phật thủ “.


Cây phật thủ thuộc loại thân gỗ , dạng bán bụi ; cây cao khoảng 1-2m , phân cành nhiều , cành mềm , mọc ngang là trên mặt đất , từ gốc đến ngọn ; trên thân có nhiều gai ngắn , nhọn . Lá phật thủ hình trứng hay hình O-van to trung bình , mép lá có nhiều răng cưa nhỏ , không có eo lá ; Lá non có màu tím hồng ( màu của sắc tố antoxian ) ; mặt phiến lá có nhiều túi tinh dầu nhỏ , có mùi thơm đặc trưng. Hoa phất thủ mọc thành từng chùm , màu trắng , cuống hoa , bầu nhụy , chỉ nhị , cánh hoa có nhiều túi dầu tinh nhỏ có thể nhìn thấy bằng mắt thường . hoa phật thủ thường bất dục hoặc không có phấn hoa , hoặc không có noãn , có giống bị bất dục đực cả 2 , nuốm nhụy thường không có Necta để giúp cho hạt phấn nảy mầm . Vì vấy hoa phật thủ rất nhiều , nhưng khả năng đậu quả rất thấp . Một cây phật thủ có thể có hàng vài chục nghìn hoa , nhưng chỉ đậu được 6-8 quả . Quả phật thủ có hình tay phật , có thể có từ 11- 22 “ngón” , là những tâm bì , hay còn gọi là tử phòng – là những múi quả ở các loài cam quýt khác . Có giống “các ngón” bố trí giống hình tay phật xòe ra , có giống có hình bàn tay phật nắm lại . Quả phật thủ có thể to như quả bưởi , nhưng cũng có giống nhiều quả thì quả nhỏ giống như hình bàn tay vàng của tượng phật . Ruột quả phật thủ không có múi , và thịt quả chỉ chứa đầy một chất trắng xốp gọi là Albedor , thành phần gồm nước , đường , vitamin và các chất khoáng . Vỏ quả khi chín có màu vàng tươi , vỏ dày có chứa nhiều túi dầu tinh thơm và dễ bảo quản . Trong điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta quả phật thủ có thể trưng bày qua tháng 5 dương lịch mà vấn tươi mới và thơm ngát cả gian phòng thơ cúng tâm linh .
Cây , lá , quả phật thủ đều có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau : cất tinh dầu để dùng trong công nghiệp mỹ phẩm và thực phẩm . Quả , rễ cây được dùng trong các bài thuốc dân gian từ thời rất xa xưa cho đến ngày nay ở cả phương Tây và phương Đông , nhất là các nước châu Á : Trung quốc , Nhật Bản và Việt Nam .


Phật thủ được người dân ưa chuộng
Cây phật thủ sinh trưởng và phát triển nhanh, dễ chăm sóc, ít sâu bệnh. Phật thủ có bộ rễ chùm, rễ chỉ ăn sâu từ 40-50cm, vì vậy khi chọn đất trồng chú ý chọn loại đất cát pha giàu dinh dưỡng, khả năng thoát nước tốt.
Phật thủ không chịu được úng nhưng lại là cây ưa ẩm, nên có một hệ thống vòi phun nước đủ để cung cấp nước tưới cây, khi thời tiết nắng nóng kéo dài.
Điều kiện để trồng được phật thủ phụ thuộc vào đất thổ nhưỡng, tốt nhất là đất cát pha, thứhai là đất không ngập nước
Phật thủ thuộc giống họ cam thân mềm, cành cây thường bò lan trên mặt đất. Do đó, ngay từ lúc cây đạt chiều cao từ 1,7-1,8m, nên làm giàn tre để đỡ cho cây.

làm giàn cho cây phật thủ
Nhờ cách làm này, gốc cây luôn thoáng mát, nhiều ánh sang do đó giảm được sâu bệnh hại cây và quả phật thủ to đều hơn.
Khoảng cách cây cách cây, hàng cách hàng là 4m, tương ứng làm giàn cho mỗi gốc phật thủ có kích thước chiều dài 4m, rộng 4m và cao 1,7-1,8m.
Phật thủ là loại cây cho thu hoạch quanh năm. Tùy vào mức độ chăm sóc mà thời gian cây cho quả tính từ khi bắt đầu đặt cây trồng là khác nhau. Nếu chăm sóc tốt thì chỉ sau một năm trồng mới cây đã cho quả, và tiếp tục đậu quả trong 5 năm tiếp theo.
 
#6
Cây dành dành chữa bong gân, sai khớp

Khi bị bong gân hay sai khớp, lấy hạt dành dành giã nát, trộn với lòng trắng trứng gà, băng đắp vào chỗ đau, ngày 1 lần. Làm 3 ngày liên tục.
Cây dành dành còn có các tên chi tử, sơn chi tử, hoàng chi tử, hoàng kê tử..., là cây nhỏ cao 2 m, rễ màu vàng, lá mọc đối, mùa hạ nở hoa màu trắng, có mùi thơm, quả hình chén, thường mọc hoang và được trồng nhiều ở Việt Nam. Dân gian thường dùng hạt để làm thuốc.

Một số bài thuốc Nam thường dùng:
- Tiểu ra máu: Hạt dành dành 50 g sao đen, sắc uống ngày 1 thang.
- Béo phì: Hạt dành dành 15 g, hoa mào gà đỏ 10 g, hạt bo bo 30 g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Đi ngoài ra máu: Dành dành 30 g sao đen, tán nhỏ thành bột. Ngày uống 10 g với nước ấm.
- Viêm gan virus: Hạt dành dành, nhân trần, cam thảo đất 16 g, rau má 20 g, sắc uống ngày 1 thang. Hoặc: Rễ cây dành dành 30 g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần.
- Viêm thận cấp: Hạt dành dành 15 g, bồ công anh 40 g, hoạt thạch 30 g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Viêm phổi: Hạt dành dành 30 g, đào nhân 3 g, phèn chua 3 g. Tất cả nghiền thành bột, hòa với giấm bôi lên ngực.
- Bạch cầu cấp: Hạt dành dành 10 g. Sắc uống ngày 1 thang.
 
#7
Cây sen cạn (lá nhìn hơi giống lá sen) là một loại cây thảo mọc leo hoặc không leo, sống hàng năm. Lá có cuống dài đính ở giữa phiến lá tròn, mép nguyên, mặt trên màu lục nhạt, mặt dưới trắng mốc. Hoa mọc ở nách lá, màu vàng, vàng cam hay đỏ, 5 cánh hoa không bằng nhau. Quả lớn, chứa 3 hạt.

Sen cạn được trồng nhiều nơi để làm cảnh, làm rau ăn và làm thuốc. Cây được trồng ở vườn, dọc hàng rào. Hoa nở vào tháng 5 - 9. Các bộ phận làm thuốc là toàn cây, có thể thu hái toàn cây quanh năm.

Lá non được dùng ăn sống hoặc nấu súp với khoai tây. Nụ hoa và quả xanh dùng ngâm giấm làm gia vị, có mùi vị như rau cải soong, ăn rất ngon miệng.

Theo y học cổ truyền, sen cạn có vị cay, chua, tính mát, tác dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết (làm mát máu) cầm máu, điều kinh, lợi tiểu, nhuận trường, trị ho...



Một số bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian

Chữa ho do lạnh: Lá sen cạn tươi 20 - 30g hoặc hạt sen cạn 2 - 3g, giã nhỏ, hãm với 100ml nước sôi trong 5 - 10 phút. Chia 2 - 3 lần uống sau bữa ăn. Có thể thêm ít đường hoặc chất thơm cho dễ uống.

Chữa táo bón: Quả sen cạn đã chín, phơi khô 0,6 - 1g nghiền thành bột, trộn với đường hoặc mật ong, uống trước khi đi ngủ. Có thể dùng quả tươi nghiền nát, lấy 1 - 3 thìa cà phê nước quả, thêm để uống, 10 ngày một liệu trình.

Chữa tiểu tiện khó khăn: Lá sen cạn 20 - 30g, sắc với 500ml nước, còn lại 200ml, chia 2 lần uống trong ngày, sau khi ăn từ 2 giờ.

Chữa rụng tóc: Hoa sen cạn 100g, hạt tươi 100g, rửa sạch cho vào ấm đổ 1000ml nước, sắc còn 300ml. Lấy nước thuốc đã sắc xoa vào tóc ngày 1 lần giúp cho tóc mọc nhanh hơn.

Chú ý: Sen cạn có thể gây kích ứng trên niêm mạc dạ dày, người viêm loét dạ dày cần thận trọng khi dùng. Để bài thuốc đem lại hiệu quả cần được thầy thuốc Đông y bắt mạch kê đơn.
 

#8
Dùng rễ mía dò chữa cổ trướng

Hỏi

Vài chục năm trước khi công tác ở Lạng Sơn, có lần tôi bị viêm thận nặng, bí đái, bụng sưng phù. Khi đó tôi được một thầy lang người dân tộc chữa khỏi bằng một thứ củ trồng ngoài vườn về sau hỏi lại tôi biết thứ cây đó tên là “Cát lồi”, người dân tộc gọi là “tậu chó”.Nay tôi rất mong thuốc vườn nhà tư vấn cách trồng và cách dùng cây thuốc để chữa bệnh cổ trướng
Nguyễn Đình Mánh, Mỹ Lộc, Nam Định

Đáp

Rất may thứ cây mà bác quan tâm mọc hoang ở khắp nơi nhất là những vùng ẩm thấp
Trong các sách thuốc cây được gọi là mía dò, còn có nhiều tên khác như:”Cát lồi”, “đọt đắng”, “tậu chó”.
Mía dò là một loại cây cỏ, cao khoảng 50-60cm, thân mềm xốp lá xòe ra hình mác. Bộ phận làm thuốc là thân,rễ.
Theo đông y: Rễ củ mía dò có vị cay, tính lạnh, hơi độc: vào 3 kinh Phế, Thận và Đại Tràng, có tác dụng lợi thủy, tiêu thũng (dùng chữa bệnh trướng nước do viêm thận hoặc xơ gan) tiểu tiện đau nhói (do viêm đường tiết liệu) ho gà, viêm thận cấp và mãn tính: mụn nhọt, lở loét ngoài da. Liều dùng sắc nước uống 3-12 g lá khô. Dùng ngoài nấu nước rửa hoặc giã đắp.

Chữa bệnh cổ trướng( bụng thũng nước to như cái trống), bác có thể sử dụng theo phương pháp sau:
(1) Dùng rễ mía dò tươi giã nát, bọc trong vải lụa , buộc lên rốn, tiểu tiện được bệnh sẽ khỏi dần( Lĩnh nam thái dược lục)
(2) Dùng rễ của mía dò tươi 30-60gam nấu cùng với 100gam lợn, chia ra ăn trong ngày (Lĩnh Nam thái dược lục)
(3) Dùng củ khô 4-12gam , sắc nước uống hoặc tùy theo chứng trạng phối hợp với các (Kinh nghiệm dân gian Việt Nam)

Ngoài ra còn có thể sử dụng để chữa

(1) Chữa tiểu tiện đục, tiểu tiện khó khăn: Dùng rễ củ mía dò 30-60 gam tươi, nấu thành thịt lợn nạc chia làm 2 lần ăn trong ngày.
(2) Chữa mẩn ngứa, mề đay, mụn nhọt sưng đau: Dùng rễ củ hoặc thân lá mía dò, nấu nước rửa những da chỗ bị bệnh.
(3) Chữa viêm tai giữa: Dùng thân lá mía dò, nướng thơm, vắt lấy nước, nhỏ vào tai
.Độc tính và cách giải độc.
-Rễ mía dò đã đồ chín, phơi khô chỉ hơi độc nhưng củ tươi rất độc
-Theo sách “Nam Phương chủ yếu hữu độc thực vật” Mía dò tươi rất độc, dùng quá liều có thể dẫn tới trúng độc, với biểu hiện choáng váng, nôn mửa kịch liệt.
-Cách giải cứu: Ăn cháo loãng ướp lạnh, mỗi lần 1 bát, cứ 15 phút ăn một lần cho tới khi cầm được ỉa chảy thì ngừng. Theo kinh nghiệm của các thầy thuốc Trung Quốc có thể dùng cam thảo 2 tiền( 6 gam) nhai hoặc sắc nước uống. Trường hợp nặng cần đưa ngay tới bệnh viện để đối chứng trị liệu.
Nguồn: thuốc vườn nhà

--------

Rau rệu chữa bệnh sởi



Cây rau rệu.
Rau rệu có nơi gọi rau giệu. Tên Hán là kê tràng thái (từ nguyên) tên khoa học Alternanthera sessilis (L) R. Br. Ex Roem et S chult. Ngọn non làm rau ăn sống, luộc nấu canh. Cứ 100g rau rệu có 89,3g nước, 4,5g protein, 19g protid, 2,1g chất xơ, 2,2g khoáng toàn phần, 98mg canxi, 22mg phospho, 1,2mg sắt, 5,1mg caroten (tiền sinh tố A) và 77mg sinh tố.
Tính năng: vị ngọt, nhạt, mát, tác dụng chống viêm, lọc máu, lợi tiểu, tiêu sưng, chống ngứa, cầm máu (máu cam, ho ra máu).
Công dụng và cách dùng:
Thúc sởi mọc nhanh, rút ngắn thời gian sởi mọc, hạn chế biến chứng.
Cách dùng: Thời kỳ xuất hiện nốt sởi: nấu rau rệu với cá diếc (luộc cá lọc lấy thịt), để ăn với cơm, hoặc nấu cháo với nước canh đó. Hoặc nấu chín đơn thuần, hoặc cùng với rau kinh giới, hoặc với tía tô để ăn cái uống nước.
Viêm da có mủ, chàm, mẩn ngứa, nấm, viêm vú... Dùng cây tươi (60 - 120g) giã lấy nước uống, bã đắp lên tổn thương hoặc sắc nước uống 15 - 30g mỗi lần.
Tràng nhạc: một nắm rau rệu, rửa sạch, giã nát, 1/2 vắt lấy nước cốt uống 1/2 đặt lên lá chuối rắc lên 1 ít phác tiêu đắp vào chỗ đau. Ngày thay thuốc một lần.
Sưng hạch ở nách bẹn: rau rệu, bèo tía, gừng sống, 3 thứ lượng bằng nhau giã nát, cho ít muối sắc kỹ lấy một chén nước, uống nóng, bã đắp chỗ đau. Trước khi đắp thuốc dùng nước vôi vẽ một vòng quanh chỗ đau để độc khỏi lan xung quanh.
Tỳ hư, uất nhiệt, đại tiện ra đờm máu ở người già: rau rệu tía một nắm nấu canh với 2 con ếch (chỉ lọc lấy nạc). Ăn nhiều lần.
Chữa các chứng máu nóng (huyết nhiệt) nổi ban ngứa, chảy máu cam, ho ra máu, tiểu tiện ra máu... Rau rệu ăn sống, uống nước giã rau rệu tươi, luộc, nấu canh, xào...
Lợi tiểu tiêu phù ở những trường hợp bệnh đường tiết niệu, gan, đái dắt, đái đỏ. Cách dùng như trên hoặc nấu canh với cá chép.
Chữa các chứng bệnh do nhiệt, sốt, khát nước, táo bón, kiết lỵ. Cách dùng như trên. Hoặc nấu canh với cá diếc.
 
Last edited:
#10
Trinh nữ hoàng cung là một loại cỏ, thân như củ hành Tây to, đường kính 10-15 cm, bẹ lá úp vào nhau thành một thân giả dài khoảng 10-15 cm, có nhiều lá mỏng dài từ 80-100 cm, rộng 3-8 cm, hai bên mép lá lượn sóng. Hoa mọc thành tán gồm 6-18 hoa, trên một cán hoa dài 30-60 cm. Cánh hoa màu trắng có điểm màu đỏ tím, từ thân mọc rất nhiều củ con có thể tách ra để trồng riêng dễ dàng. Nhân dân ta thường nghĩ trinh nữ hoàng cung chỉ mọc ở Thái Lan và Campuchia, nhưng thực tế cây cũng mọc từ lâu ở nước ta. Ở Việt Nam, bộ phận dùng làm thuốc là lá tươi hay phơi rồi thái nhỏ sao vàng. Lá cây trinh nữ hoàng cung vẫn được sử dụng chữa những trường hợp u xơ, ung thư tử cung cho phụ nữ và u xơ, ung thư tiền liệt tuyến cho nam giới. Cách dùng như sau: Ngày uống nước sắc của 3 lá trinh nữ hoàng cung hái tươi thái nhỏ, sao khô cho hơi vàng, uống luôn trong 7 ngày, rồi nghỉ 7 ngày, sau đó lại uống tiếp 7 ngày nữa, lại nghỉ 7 ngày và uống tiếp 7 ngày. Tổng cộng 3 đợt uống là 7x3x3 là 63 lá, xen kẽ hai đợt nghỉ uống, mỗi đợt 7 ngày. Nhiều người bệnh đã uống nước sắc trinh nữ hoàng cung như trên và có kết quả tốt. Trinh nữ hoàng cung cũng đã được sản xuất thuốc điều trị, được Cục Dược cấp phép. Khi mua lá, cần mua tại địa chỉ tin cậy, người bán có kinh nghiệm để đảm bảo chất lượng điều trị.

--------

[/url]
[/IMG]
 
Last edited:
#11
[/url]
[/IMG]

--------

Rễ Ý dĩ chữa vàng da
Ý dĩ, Bo bo, Cườm gạo - Coix lachryma - jobi L., thuộc họ Lúa - Poaceae.
Mô tả: Cây thảo sống hằng năm hay lâu năm. Thân mọc thẳng đứng, cao 1,5-2m, phân nhánh ở những ngọn có hoa. Ở gốc thân có nhiều rễ phụ. Lá mọc so le, mặt lá ráp, gân lá song song, không có cuống. Hoa đơn tính cùng gốc: bông hoa đực ngắn, màu lục nhạt, trông tựa một nhánh của bông lúa; hoa cái thì nằm trong một lá bắc dày và cứng, từ màu xanh chuyển sang màu nâu tím đến đen. Quả hình trứng hơi nhọn đầu (thường gọi nhầm là nhân) được bao bởi một lá bắc cứng (thường gọi nhầm là vỏ).
Hoa tháng 7-8, quả tháng 9-10.

Bộ phận dùng: Hạt - Semen Coicis, thường gọi là ý dĩ nhân. Rễ, lá cũng được dùng.
Nơi sống và thu hái: Loài của Á châu nhiệt đới, mọc hoang và cũng thường được trồng ở bờ nước, bãi, ruộng. Trồng bằng quả. Người ta thu hoạch cây khi quả chín già, cắt cả cây về phơi, đập lấy quả, sấy khô, rồi xay, thu lấy nhân trắng, phơi hay sấy khô. Cắt rễ, đem rửa sạch rồi phơi khô.
Thành phần hóa học: Hạt chứa hydrat carbon, protid, lipid và nhiều acid amin như leucin, tyrosin, histidin, lysine, arginine, coicin, glutamic acid. Trong chất béo có coixenolide và coixol, sitosterol, dimethyl glucosid. Ở Trung Quốc, hạt Ý dĩ có acid myristic, campesterol,... Rễ chứa protid, lipid và tinh bột.
Tính vị, tác dụng: Hạt có vị ngọt, nhạt, tính mát; có tác dụng bổ tỳ, kiện vị, lợi niệu, thanh nhiệt bài nung, bổ phế. Rễ có vị đắng, ngọt, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, kiện tỳ, sát trùng. Lá có tác dụng noãn vị và ích khí huyết.
Công dụng, chỉ định và phối hợp:
1. Hạt dùng chữa: áp xe phổi, ruột thừa; viêm ruột ỉa chảy, bạch đới; phong thấp sưng đau; loét dạ dày, loét cổ tử cung; mụn cóc, eczema. Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.
Ý dĩ là thuốc bổ và bồi dưỡng cơ thể tốt, dùng bổ sức cho người già và trẻ em, dùng lợi sữa cho phụ nữ sinh đẻ.
Do Ý dĩ có nhiều lipid, protid hơn Gạo, nhiều protid hơn bột Bắp, nên người ta dùng hạt đã giã trắng để thổi cơm, cũng thơm, dẻo và ngon như cơm nếp. Hoặc kết hợp với hạt Sen. Mộc nhĩ để hầm với thịt gà ăn vừa ngon vừa bổ. Cũng dùng nấu chè, ăn ngon như chè gạo nếp.
2. Rễ dùng chữa: Viêm nhiễm đường niệu, sỏi thận; thủy thũng, phong thấp đau xương, trẻ em ỉa chảy, bạch đới, rối loạn kinh nguyệt, kinh bế; trừ giun đũa, đau bụng giun. Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc.
Ðơn thuốc:
1. Vàng da: Rễ Ý dĩ sắc nước uống, hoặc dùng rễ ý dĩ 60g, Nhân trần 30g, thêm ít đường nấu uống, 3 lần trong ngày.
2. Giun đũa: Rễ Ý dĩ 15g, giã ra hòa với rượu uống.
Chú ý: Người có thai khi dùng Ý dĩ phải rất cẩn thận.
 
Last edited:

Đối tác


BÀI VIẾT YÊU THÍCH