BQV FRESH 4.0 – MỞ RỘNG KHÁI NIỆM TƯ LIỆU VÀ DIỆN TÍCH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP. Tác giả Bùi Quang Võ

BQV FRESH 4.0 – MỞ RỘNG KHÁI NIỆM TƯ LIỆU VÀ DIỆN TÍCH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP.

TỪ “CÓ BAO NHIÊU ĐẤT?” ĐẾN “CÓ BAO NHIÊU KHÔNG GIAN VÀ NGUỒN LỰC CÓ THỂ TẠO RA SẢN XUẤT?”

Tác giả Bùi Quang Võ.
file_0000000093c881f6b550ff76a794c75a.webp

I. ĐẶT VẤN ĐỀ: CÓ THẬT LÀ NÔNG DÂN NÔNG THÔN ĐANG “THIẾU TÀI NGUYÊN”?

Một người nông dân có thể nói:
“Tôi không có đất.”
Hoặc:
“Đất nhà tôi xấu, không trồng được gì.”

Hoặc:
“Tôi không có vốn nên không thể làm nông nghiệp.”

Nhưng nếu nhìn rộng hơn, câu trả lời có thể hoàn toàn khác.

Người đó có thể đang sống giữa một vùng có nắng quanh năm, nước mưa dồi dào theo mùa, sông rạch chằng chịt, cỏ cây sinh trưởng mạnh, lục bình phủ kín mặt nước, phụ phẩm nông nghiệp rất nhiều, vật nuôi bản địa phong phú và chính họ có sức lao động cùng kinh nghiệm địa phương.

Vậy vấn đề thực sự là:
HỌ THIẾU TÀI NGUYÊN, HAY CHƯA NHẬN DIỆN ĐƯỢC TÀI NGUYÊN CỦA CHÍNH MÌNH?
Đây là một trong những nút thắt về tư duy mà BQV Fresh 4.0 muốn giải quyết.

II. BQV FRESH 4.0 KHÔNG PHỦ NHẬN “ĐẤT NÔNG NGHIỆP”, MÀ MỞ RỘNG CÁCH HIỂU VỀ “DIỆN TÍCH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP”.

Trong khoa học nông nghiệp và quản lý đất đai, đất nông nghiệp là một khái niệm cụ thể và có ý nghĩa rõ ràng.

BQV Fresh 4.0 không có mục tiêu thay thế khái niệm đó.

Điều BQV Fresh 4.0 muốn mở rộng là khái niệm tư liệu sản xuất và không gian có khả năng tham gia vào sản xuất nông nghiệp – thủy sản.

Bởi vì trong thực tế, người nông dân thường đồng nhất:

DIỆN TÍCH SẢN XUẤT = DIỆN TÍCH ĐẤT.
Trong khi trên phương diện thiết kế hệ sinh thái, một đơn vị diện tích có thể chứa nhiều dạng không gian và nhiều tầng sản xuất khác nhau.

Một cái ao có mặt nước.

Một bờ ao có diện tích đất.

Phía trên ao có không gian không khí và ánh sáng.

Trong nước có các tầng sinh thái.

Dưới đáy có không gian sống của sinh vật đáy.

Ven bờ có thể có cây trồng và sinh cảnh.

Dòng nước đi qua hệ thống có thể mang theo vật chất và dinh dưỡng.

Như vậy, nếu chỉ nhìn bằng mét vuông đất, rất nhiều giá trị sản xuất sẽ bị bỏ qua.

III. KHÁI NIỆM “DIỆN TÍCH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP” THEO TƯ DUY BQV FRESH 4.0

Trong phạm vi tư duy thiết kế của BQV Fresh 4.0, có thể hiểu:

“DIỆN TÍCH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP” LÀ TOÀN BỘ KHÔNG GIAN CÓ KHẢ NĂNG ĐƯỢC TỔ CHỨC, KẾT NỐI VÀ QUẢN LÝ ĐỂ TẠO RA GIÁ TRỊ NÔNG NGHIỆP, THỦY SẢN, SINH HỌC HOẶC SINH KẾ.
Khái niệm này không đồng nghĩa với khái niệm pháp lý “đất nông nghiệp”.

Nó là một khái niệm thiết kế và tư duy sản xuất.

Vì vậy, diện tích sản xuất có thể bao gồm:

Diện tích đất.

Diện tích mặt nước.

Mặt ao, mương, sông rạch có khả năng khai thác phù hợp.

Không gian phía trên mặt đất và mặt nước.

Bờ, mép, rãnh, vùng chuyển tiếp.

Các công trình có thể tích hợp sản xuất.

Các vùng có khả năng tích giữ, luân chuyển và sử dụng nước.

Các không gian đang bị bỏ trống hoặc bỏ hoang nhưng có thể tổ chức lại thành hệ thống sản xuất.


Đây chính là bước mở rộng quan niệm:

TỪ “ĐẤT ĐỂ SẢN XUẤT” → “KHÔNG GIAN ĐỂ TỔ CHỨC SẢN XUẤT”.

file_000000003dc481f58cdc4d099c0a2630.webp

IV. TƯ LIỆU SẢN XUẤT KHÔNG CHỈ LÀ NHỮNG THỨ CÓ THỂ MUA BẰNG TIỀN.

Một hạn chế phổ biến của tư duy sản xuất là chỉ nhìn thấy những thứ đã được thương mại hóa.

Có đất thì tính là tài sản.

Có máy móc thì tính là tài sản.

Có tiền thì tính là vốn.

Có giống thì tính là đầu vào.

Nhưng:

Nước mưa có phải vốn không?

Ánh nắng có phải vốn không?

Gió có phải vốn không?

Lục bình có phải vốn không?

Cỏ dại có phải vốn không?

Phụ phẩm nông nghiệp có phải vốn không?

Sinh vật bản địa có phải vốn không?

Sức lao động có phải vốn không?

Kinh nghiệm của người nông dân có phải vốn không?


Theo tư duy BQV Fresh 4.0, câu trả lời là:
CÓ THỂ LÀ VỐN – NẾU CHÚNG CÓ KHẢ NĂNG THAM GIA VÀO MỘT CHU TRÌNH TẠO RA GIÁ TRỊ.

Một thứ có thể không có giá trị tiền tệ cao khi đứng riêng lẻ, nhưng có thể trở thành nguồn lực sản xuất khi được kết nối đúng.

V. NÔNG THÔN VIỆT NAM KHÔNG HẲN NGHÈO TÀI NGUYÊN – MÀ CÓ THỂ NGHÈO VỀ KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ KẾT NỐI TÀI NGUYÊN

Đây là một luận điểm diễn đạt rất cẩn thận trong BQV Fresh BQV.

Không ai nên nói:
“Nông dân nghèo vì không biết gì.”

Cách nói đó vừa không đúng, vừa dễ tạo cảm giác coi thường tri thức nông dân Việt Nam.

Nên nói:
“Nhiều nguồn lực tự nhiên và sinh học ở nông thôn chưa được nhận diện đầy đủ dưới góc độ tư liệu sản xuất.”
Người nông dân có thể biết lục bình mọc rất nhiều.

Nhưng họ có thể chưa nhìn thấy rằng lục bình có thể trở thành một dòng nguyên liệu.

Họ biết cỏ mọc đầy ruộng.

Nhưng có thể chưa nhìn thấy cỏ là nguồn sinh khối.

Họ biết phân chuồng có thể bón ruộng.

Nhưng có thể chưa tổ chức được một chu trình:
CỎ → BĂM/XỬ LÝ → Ủ → PHÂN HỮU CƠ → TRÙN QUẾ → THỨC ĂN/PHỤ PHẨM → GÀ/CÁ/TÉP → PHÂN → QUAY LẠI HỆ THỐNG.

Đây chính là khoảng trống mà tư duy hệ thống có thể bổ sung cho kinh nghiệm sản xuất truyền thống.

VI. LỤC BÌNH: MỘT VÍ DỤ ĐIỂN HÌNH VỀ “TÀI NGUYÊN BỊ NHÌN NHẦM THÀNH RÁC

Ở nhiều vùng sông rạch miền Tây Nam Bộ, lục bình phát triển rất mạnh.

Có những đoạn sông, lục bình dày đến mức ảnh hưởng đến việc lưu thông của ghe xuồng.

Cách nhìn thông thường có thể là:
“Lục bình là thứ phải vớt bỏ.”

BQV Fresh 4.0 đặt thêm câu hỏi:

“Nếu phải vớt bỏ, tại sao không biến việc vớt bỏ thành một hoạt động tạo giá trị?”

Lục bình có thể được thu gom làm nguyên liệu cho nhiều hướng sử dụng khác nhau tùy điều kiện.

Có thể phơi khô để bán hoặc làm nguyên liệu.

Phần không phù hợp cho thương mại có thể được băm nhỏ, phối trộn và ủ hữu cơ theo quy trình phù hợp.

Sinh khối sau xử lý có thể tham gia vào chu trình đất – phân – cây.

Một phần có thể trở thành nguyên liệu cho các hệ thống nuôi trùn nếu điều kiện kỹ thuật phù hợp.

Dòng vật chất sau đó có thể quay trở lại phục vụ cây trồng hoặc các đối tượng sản xuất khác.

Như vậy:
LỤC BÌNH KHÔNG NHẤT THIẾT CHỈ LÀ “RÁC SÔNG”.
Nó có thể được nhìn như:
MỘT DÒNG SINH KHỐI ĐANG TRÔI TRÊN MẶT NƯỚC.
Đây chính là sự thay đổi của góc nhìn tài nguyên.

VII. “XUỒNG NHỎ” CŨNG CÓ THỂ LÀ MỘT TƯ LIỆU SẢN XUẤT.

Có một nghịch lý rất đáng chú ý.

Khi nói đến khai thác lục bình, nhiều người có thể nghĩ ngay:

“Phải có ghe lớn, máy lớn, thiết bị lớn mới làm được.”

Nhưng thực tế có thể có một cách tiếp cận khác.

Một người nông dân với một chiếc xuồng đơn sơ vẫn có thể thu gom lục bình ở quy mô phù hợp với sức lao động và điều kiện của mình.

Họ không nhất thiết phải bắt đầu bằng một hệ thống cơ giới hóa lớn.

Họ có thể bắt đầu bằng:

Xuồng.

Dụng cụ thu gom.

Sân phơi.

Nơi tập kết.

Máy băm nếu có điều kiện.

Khu vực ủ.


Sau đó, dòng vật chất được phân loại:
PHẦN CÓ THỂ BÁN → BÁN.

PHẦN CÓ THỂ PHƠI → PHƠI.

PHẦN CÓ THỂ Ủ → Ủ.

PHẦN CÓ THỂ LÀM NGUYÊN LIỆU → CHUYỂN HÓA.

PHẦN KHÔNG PHÙ HỢP → XỬ LÝ THEO CÁCH AN TOÀN.

Đây chính là tinh thần Tiểu – Nhuyễn – Cương:

Tiểu: Bắt đầu bằng phương tiện nhỏ.

Nhuyễn: Linh hoạt theo điều kiện thực tế.

Cương: Tạo thành một chu trình có khả năng duy trì lâu dài.

VIII. CỎ TẠP CŨNG CÓ THỂ LÀ MỘT “MỎ SINH KHỐI”

Ở nông thôn, có những loại cỏ vật nuôi không ăn hoặc ăn kém.

Nếu chỉ nhìn bằng quan niệm:

“Trâu bò không ăn thì đó là cỏ vô dụng.”

Thì sẽ bỏ qua một lượng sinh khối rất lớn.

Nhưng nếu chuyển sang tư duy dòng vật chất, có thể đặt câu hỏi:

Có thể băm không?

Có thể phối trộn không?

Có thể ủ không?

Có thể làm phân xanh không?

Có thể làm nguyên liệu cho quá trình phân hủy sinh học không?

Có thể kết hợp với phân chuồng không?

Có thể tạo giá thể hoặc nguồn nguyên liệu hữu cơ phù hợp không?


Từ đó hình thành một chuỗi:
CỎ TẠP → THU GOM → BĂM → PHỐI TRỘN → Ủ → PHÂN HỮU CƠ → ĐẤT → CÂY → SINH KHỐI MỚI.

Nếu có hệ thống phù hợp, một phần dòng vật chất có thể tiếp tục được kết nối với:

TRÙN → GIA CẦM → THỦY SẢN → PHÂN → HỆ THỐNG CÂY TRỒNG.
Đây không phải là biến mọi thứ thành thức ăn.

Mà là tìm đúng vị trí của từng loại vật chất trong chu trình.

IX. VẤN ĐỀ KHÔNG PHẢI LÀ “CÓ RÁC HAY KHÔNG”, MÀ LÀ “RÁC ĐANG Ở ĐÂU TRONG CHU TRÌNH?”

BQV Fresh 4.0 cần tránh một quan niệm đơn giản rằng:

“Có gì cũng đem bỏ vào ao.”

Đó không phải là tư duy sinh thái.

Chất hữu cơ phải được phân loại, kiểm soát, xử lý và đưa vào đúng công đoạn.

Lục bình phù hợp không có nghĩa mọi lục bình đều an toàn để sử dụng.

Cỏ có sinh khối lớn không có nghĩa cỏ đã bị nhiễm thuốc bảo vệ thực vật vẫn được đưa trực tiếp vào chu trình.

Phụ phẩm nhà bếp không có nghĩa tất cả đều có thể đưa vào hệ thống nuôi.

Đặc biệt:
SINH KHỐI CÓ KHẢ NĂNG NHIỄM THUỐC TRỪ CỎ, THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT HOẶC CHẤT ĐỘC KHÔNG ĐƯỢC XEM NHƯ NGUỒN NGUYÊN LIỆU AN TOÀN.
Đây là lý do BQV Fresh 4.0 phải đặt Công nghệ Nuôi Nước, quản lý vật chất và kiểm soát chất lượng môi trường ở vị trí trung tâm.

X. TỪ “RÁC” ĐẾN “DÒNG VẬT CHẤT”.

Một trong những thay đổi ngôn ngữ quan trọng của BQV Fresh 4.0 là:
ĐỪNG NHÌN MỌI THỨ CHỈ BẰNG TÊN GỌI. HÃY NHÌN CHÚNG BẰNG VAI TRÒ CỦA CHÚNG TRONG CHU TRÌNH.
Lục bình có thể là thực vật thủy sinh.

Nhưng ở một hệ thống khác, nó có thể là sinh khối.

Cỏ có thể là cỏ dại.

Nhưng trong một chu trình khác, nó có thể là nguyên liệu hữu cơ.

Phân chuồng có thể là chất thải.

Nhưng trong một hệ thống khác, nó có thể là nguồn dinh dưỡng sau xử lý.

Nước thải phù hợp sau xử lý có thể trở thành dòng nước cần tái sử dụng.

Bùn hữu cơ phù hợp có thể trở thành nguồn vật chất cần được xử lý và tái sử dụng.

Do đó:
GIÁ TRỊ KHÔNG CHỈ NẰM Ở BẢN THÂN VẬT THỂ, MÀ CÒN NẰM Ở VỊ TRÍ CỦA NÓ TRONG HỆ THỐNG.

XI. CÔNG NGHỆ NUÔI NƯỚC LÀ CÁCH NHÌN TOÀN BỘ DÒNG VẬT CHẤT.

Từ đây, Công nghệ Nuôi Nước của BQV Fresh 4.0 không chỉ là câu chuyện:

“Làm sao để nước sạch?”

Mà rộng hơn:
“NƯỚC ĐANG MANG GÌ, ĐI ĐÂU, ĐƯỢC XỬ LÝ THẾ NÀO VÀ CÓ THỂ THAM GIA VÀO CHU TRÌNH NÀO?”
Nước mang chất dinh dưỡng.

Nước mang chất hữu cơ.

Nước mang oxy.

Nước mang sinh vật.

Nước mang nhiệt.

Nước kết nối các khu vực sản xuất.

Vì vậy, thiết kế nước đồng thời là thiết kế:

Dòng vật chất.

Dòng năng lượng.

Dòng sinh học.

Dòng sản xuất.

Dòng thông tin.


Đó là lý do:
NUÔI NƯỚC TRƯỚC – NUÔI CON SAU.

XII. NƯỚC – NẮNG – GIÓ – ĐẤT – SINH VẬT – HỮU CƠLAO ĐỘNG: TẤT CẢ ĐỀU CÓ THỂ LÀ “VỐN”.

Trong BQV Fresh 4.0, chữ “vốn” cũng cần được mở rộng.

Không chỉ có:

VỐN TIỀN.
Mà còn có:
VỐN TỰ NHIÊN.
VỐN SINH HỌC.
VỐN KHÔNG GIAN.
VỐN NƯỚC.
VỐN NĂNG LƯỢNG.
VỐN SINH KHỐI.
VỐN LAO ĐỘNG.
VỐN TRI THỨC.
VỐN XÃ HỘI VÀ CỘNG ĐỒNG.

Tiền vẫn rất quan trọng.
Nhưng tiền không phải là loại vốn duy nhất.

Một hộ ít tiền nhưng có nguồn nước, sinh khối, đất, nắng, sinh vật, lao động và tri thức địa phương có thể có một nền tảng tài nguyên đáng kể nếu biết tổ chức chúng.

XIII. ĐÂY LÀ “DIỆN TÍCH SẢN XUẤTTHEO CHIỀU RỘNG CỦA BQV FRESH 4.0.

Một người có thể nói:
“Tôi chỉ có vài trăm mét vuông đất.”

BQV Fresh 4.0 không vội trả lời bằng con số.


Mà sẽ hỏi:
Có bao nhiêu mặt đất?

Có bao nhiêu mặt nước?

Có bao nhiêu bờ và mép?

Có bao nhiêu không gian đứng?

Có bao nhiêu nước mưa có thể thu?

Có bao nhiêu sinh khối có thể thu gom?

Có bao nhiêu nắng mỗi ngày?

Có thể tổ chức bao nhiêu tầng sinh học?

Có thể tạo bao nhiêu chu trình vật chất?

Có bao nhiêu thời gian lao động có thể bố trí?



Khi đó, “diện tích sản xuất” không còn đơn giản là:

MÉT VUÔNG × NĂNG SUẤT.

Mà bắt đầu trở thành:
KHÔNG GIAN × TẦNG SẢN XUẤT × NGUỒN LỰC × CHU TRÌNH × THỜI GIAN × THIẾT KẾ.

Đây chính là tư duy đa tầng – đa không gian – đa dòng vật chất.

XIV. TỪ “MỘT MẢNH ĐẤT” ĐẾN “MỘT HỆ SINH THÁI SẢN XUẤT”.

Một mảnh đất nhỏ có thể không đủ để tạo nên một trang trại theo cách hiểu truyền thống.

Nhưng nếu kết nối với:

Mái nhà → thu nước mưa.

Sân → phơi sinh khối.

Bờ → trồng cây.

Ao → nuôi thủy sản.

Mặt nước → khai thác sinh khối phù hợp.

Cỏ → ủ hữu cơ.

Phân chuồng → xử lý.

Trùn → tạo sinh khối.

Cây → hấp thu dinh dưỡng.

Nước → tuần hoàn.

Lao động → thu gom và điều phối.


Thì cái được tạo ra không còn đơn thuần là một “mảnh đất”.

Nó trở thành:
MỘT HỆ SINH THÁI SẢN XUẤT.

Đây chính là điểm mà BQV Fresh 4.0 muốn người nông dân nhìn thấy

XV. CÔNG THỨC TƯ DUY MỚI

Có thể cô đọng thành:
ĐẤT + NƯỚC + NẮNG + GIÓ + SINH VẬT + SINH KHỐI + LAO ĐỘNG + TRI THỨC + THIẾT KẾ = NĂNG LỰC SẢN XUẤT.

Và mở rộng hơn:
DIỆN TÍCH SẢN XUẤT ≠ CHỈ LÀ DIỆN TÍCH ĐẤT.

DIỆN TÍCH SẢN XUẤT = KHÔNG GIAN CÓ KHẢ NĂNG TỔ CHỨC THÀNH GIÁ TRỊ SẢN XUẤT.

Trong đó, đất là một thành phần quan trọng, nhưng không phải là toàn bộ không gian sản xuất.

XVI. TỪ “TÔI KHÔNG CÓ ĐẤT” ĐẾN “TÔI CÓ THỂ BẮT ĐẦU TỪ ĐÂU?”

Đây là sự thay đổi câu hỏi quan trọng nhất.

Tư duy cũ:
“Tôi không có đất nên tôi không làm được.”

Tư duy BQV Fresh 4.0:

“Tôi có không gian nào?”

“Tôi có nước ở đâu?”

“Tôi có nắng bao nhiêu?”

“Tôi có sinh khối gì?”

“Tôi có sinh vật gì?”

“Tôi có thể tận dụng không gian nào?”

“Tôi có thể bắt đầu bằng công cụ nào đang có?”

“Tôi có thể biến dòng vật chất nào thành dòng giá trị?”

Và cuối cùng:
“Tôi có thể thiết kế hệ thống nhỏ nào trước?”

Đây chính là Tiểu – Nhuyễn – Cương.

Không bắt đầu bằng một dự án khổng lồ.

Không chờ có đủ vốn mới bắt đầu.

Không nhất thiết phải mua mọi thứ.

Mà bắt đầu bằng những gì đang có, rồi từng bước làm cho hệ thống lớn lên.

XVII. THÔNG ĐIỆP CỐT LÕI CỦA BQV FRESH 4.0.

BQV Fresh 4.0 không nói rằng:
“Nông dân không cần đất.”

Mà nói:
“ĐỪNG ĐỂ KHÁI NIỆM ĐẤT LÀM GIỚI HẠN KHẢ NĂNG NHÌN THẤY TOÀN BỘ TƯ LIỆU SẢN XUẤT.”

BQV Fresh 4.0 không nói rằng:
“Cứ có nước là sản xuất được.”

Mà nói:
“HÃY HỌC CÁCH NHÌN NƯỚC NHƯ MỘT HẠ TẦNG SẢN XUẤT.”

BQV Fresh 4.0 không nói rằng:
“Mọi thứ bỏ đi đều có thể làm phân.”

Mà nói:
“HÃY PHÂN LOẠI VÀ TÌM ĐÚNG VỊ TRÍ CỦA TỪNG DÒNG VẬT CHẤT TRONG CHU TRÌNH.”

BQV Fresh 4.0 không nói rằng:
“Nông dân chỉ cần lao động nhiều hơn.”

Mà nói:
“HÃY DÙNG THIẾT KẾ ĐỂ GIẢM NHỮNG LAO ĐỘNG MÀ THIÊN NHIÊN CÓ THỂ LÀM THAY.”

Và quan trọng nhất:
BQV FRESH 4.0 KHÔNG CHỈ TRAO CHO NGƯỜI NÔNG DÂN MỘT MÔ HÌNH SẢN XUẤT.

BQV FRESH 4.0 MUỐN TRAO MỘT CÁCH NHÌN ĐỂ NGƯỜI NÔNG DÂN TỰ NHÌN THẤY TƯ LIỆU SẢN XUẤT ĐANG Ở NGAY QUANH MÌNH.

XVIII. KẾT LUẬN: “NÔNG NGHIỆP KHÔNG CHỈ NẰM TRÊN ĐẤT”.

Nếu chỉ nhìn nông nghiệp bằng đất, chúng ta sẽ nhìn thấy diện tích.

Nếu nhìn bằng nước, chúng ta sẽ nhìn thấy môi trường.

Nếu nhìn bằng nắng, chúng ta sẽ nhìn thấy năng lượng.

Nếu nhìn bằng sinh vật, chúng ta sẽ nhìn thấy hệ sinh thái.

Nếu nhìn bằng sinh khối, chúng ta sẽ nhìn thấy dòng nguyên liệu.

Nếu nhìn bằng lao động, chúng ta sẽ nhìn thấy năng lực thực hiện.

Nếu nhìn bằng tri thức, chúng ta sẽ nhìn thấy khả năng thiết kế.

Và nếu nhìn tất cả chúng cùng một lúc, chúng ta sẽ nhìn thấy:

MỘT HỆ THỐNG TƯ LIỆU SẢN XUẤT.

Đó là bước chuyển quan trọng trong tư duy BQV Fresh 4.0:

TỪ ĐẤT → KHÔNG GIAN.
TỪ TÀI SẢN → NGUỒN LỰC.
TỪ RÁC → DÒNG VẬT CHẤT.
TỪ NƯỚC → HẠ TẦNG SINH THÁI.
TỪ LAO ĐỘNG CƠ BẮP → LAO ĐỘNG THIẾT KẾ.
TỪ MỘT MẢNH ĐẤT → MỘT HỆ SINH THÁI SẢN XUẤT.

Và cuối cùng:
“TÔI CÓ ÍT ĐẤT” KHÔNG NHẤT THIẾT ĐỒNG NGHĨA VỚI “TÔI CÓ ÍT TƯ LIỆU SẢN XUẤT”.

Bởi trong một vùng nông thôn nhiệt đới giàu nước, giàu nắng, giàu sinh khối và đa dạng sinh học như nhiều vùng của Việt Nam, cái thiếu đôi khi không phải là tài nguyên, mà là một hệ tư duy đủ rộng để nhận ra tài nguyên, một thiết kế đủ thông minh để kết nối chúng, và một phương thức đủ phù hợp để biến chúng thành sinh kế.

Đó chính là một trong những nền tảng tư duy của BQV Fresh 4.0.
H7
 
Back
Top