TUYÊN BỐ ĐÍNH CHÍNH VỀ CHỦ TRƯƠNG SỬ DỤNG THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP TRONG SM4AT CỦA BQV FRESH 4.0.
Tác giả Bùi Quang Võ
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Trong quá trình trao đổi và phổ biến tư duy SM4AT – Mô hình Ao Sinh thái Đa Tầng, Đa Loài, Tự Cân bằng – nuôi bốn loài thủy sản dành cho cộng đồng ít nguồn lực, đã xuất hiện cách hiểu rằng BQV Fresh chủ trương không sử dụng thức ăn công nghiệp.Đây là cách hiểu chưa đầy đủ và cần được đính chính.
BQV Fresh khẳng định đối với Cán bộ điều phối, Hợp Tác Xã trong hệ thống hoặc Hợp Tác Xã liên kết :
SM4AT Không Cấm Thức Ăn Công Nghiệp, Không Phản Đối Thức Ăn Công Nghiệp Và Không Xem Thức Ăn Công Nghiệp Là Yếu Tố Phải Loại Bỏ.
Chủ trương của SM4AT là giảm sự phụ thuộc không cần thiết vào thức ăn công nghiệp, giảm chi phí đầu vào, đồng thời tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên và nguồn nguyên liệu tại chỗ một cách an toàn, hợp lý và có kiểm soát.
Vì vậy, vấn đề không phải là:
“Có được sử dụng thức ăn công nghiệp hay không?”
Mà phải đặt câu hỏi:
Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa “cắt giảm thức ăn” và “tối ưu hóa chi phí thức ăn”.“Có thể giảm sự phụ thuộc vào thức ăn công nghiệp đến mức nào mà vẫn bảo đảm hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và ổn định sinh kế?”
II. BẢN CHẤT CHỦ TRƯƠNG CỦA BQV FRESH.
SM4AT được định hướng cho cộng đồng ít nguồn lực, do đó một trong những mục tiêu quan trọng là giảm những khoản chi phí mà người dân có khả năng chủ động giảm được.Trong nuôi thủy sản, thức ăn thường là một khoản chi phí đáng kể.
Nếu toàn bộ thức ăn đều phải mua từ bên ngoài, hộ sản xuất có thể phải đối mặt với:
- Giá thức ăn biến động.
- Chi phí vận chuyển.
- Vốn lưu động lớn.
- Sự phụ thuộc vào nhà cung cấp.
- Rủi ro khi giá thức ăn tăng nhưng giá thủy sản giảm.
- Khó duy trì sản xuất khi nguồn vốn bị thiếu hụt.
Tuy nhiên, giảm chi phí không có nghĩa là cắt giảm thức ăn bằng mọi giá.
Nếu giảm thức ăn công nghiệp nhưng làm thủy sản chậm lớn, tỷ lệ sống giảm, thời gian nuôi kéo dài, chất lượng thương phẩm giảm hoặc tăng rủi ro thì tổng chi phí sản xuất chưa chắc đã giảm.
Do đó, nguyên tắc đúng phải là:
Giảm chi phí đầu vào ở nơi có thể giảm – Bổ sung đầu vào ở nơi cần thiết – Tối ưu hiệu quả tổng thể.
III. BA NHÓM THỨC ĂN TRONG TƯ DUY SM4AT.
Trong SM4AT có thể phân biệt ba nhóm nguồn thức ăn chính:| Tiêu chí | Thức ăn tự nhiên | Thức ăn chế biến / tự phối trộn | Thức ăn công nghiệp |
|---|---|---|---|
| Nguồn gốc | Hình thành trong hệ sinh thái ao hoặc nguồn tự nhiên phù hợp | Nguyên liệu, phụ phẩm địa phương được sơ chế, phối trộn hoặc chế biến | Sản xuất công nghiệp theo công thức dinh dưỡng |
| Ví dụ | Biofilm, phiêu sinh, bo bo, sinh vật đáy, nguồn rong/tảo phù hợp | Cám, nguyên liệu thực vật, phụ phẩm nông nghiệp, nguyên liệu đạm được xử lý và phối trộn | Thức ăn viên, mảnh, bột hoặc thức ăn chuyên dụng |
| Chi phí tiền mặt | Có thể thấp nếu hệ sinh thái hoạt động tốt | Thấp đến trung bình tùy nguyên liệu và công lao động | Thường cao hơn do phải mua từ bên ngoài |
| Mức độ chủ động | Thấp đến trung bình | Trung bình | Cao |
| Kiểm soát dinh dưỡng | Khó định lượng chính xác | Có thể kiểm soát theo công thức | Tương đối cao |
| Vai trò | Tạo nền sinh thái và giảm nhu cầu thức ăn mua ngoài | Chuyển hóa nội lực địa phương thành thức ăn | Bổ sung dinh dưỡng và tạo sự chủ động |
| Hạn chế | Biến động theo mùa, thời tiết và chất lượng nước | Chất lượng phụ thuộc nguyên liệu và kỹ thuật chế biến | Chi phí cao hơn và có thể tạo sự phụ thuộc nếu lạm dụng |
| Quan điểm BQV Fresh | Ưu tiên phát huy | Khuyến khích khi phù hợp và an toàn | Không cấm; sử dụng có mục tiêu và tính toán |
Ba nhóm này không phải ba phương án loại trừ nhau.
Nguyên tắc của SM4AT là:
Thức ăn tự nhiên tạo nền – Thức ăn chế biến tận dụng nội lực – Thức ăn công nghiệp tạo sự chủ động khi cần thiết.
IV. TỶ LỆ SỬ DỤNG THEO GIAI ĐOẠN.
Các tỷ lệ dưới đây là khung định hướng ban đầu về cơ cấu nguồn thức ăn, dùng để cán bộ điều phối, HTX và người áp dụng hình dung cách phối hợp ba nhóm thức ăn.Không được xem đây là công thức khẩu phần bắt buộc.
Tỷ lệ thực tế phải được điều chỉnh theo loài, tuổi, mật độ, sinh khối thức ăn tự nhiên, chất lượng nước, thời tiết, mục tiêu sản xuất và khả năng của từng hộ.
Bảng định hướng cơ cấu nguồn thức ăn
| Giai đoạn | Mục tiêu chính |
|---|---|
| Khởi tạo hệ sinh thái / gây thức ăn tự nhiên | Xây dựng nền thức ăn và hệ sinh thái |
| Con giống / ương giống | Chủ động dinh dưỡng và tăng tỷ lệ sống |
| Sinh trưởng | Cân bằng tăng trưởng và chi phí |
| Tăng trưởng nhanh / mật độ cao | Bổ sung khi thức ăn tự nhiên không đáp ứng |
| Sinh sản / đàn bố mẹ | Bảo đảm dinh dưỡng cho sinh sản |
| Vỗ béo / hoàn thiện thương phẩm | Kiểm soát tăng trưởng và chất lượng thương phẩm |
| Giai đoạn cuối trước thu hoạch | Điều chỉnh theo chất lượng sản phẩm và thị trường |
[th]
Thức ăn tự nhiên
[/th][th]
Thức ăn chế biến / tự phối trộn
[/th][th]
Thức ăn công nghiệp
[/th]
[td]
70–90%
[/td][td]
10–30%
[/td][td]
0–10%
[/td]
[td]
30–60%
[/td][td]
10–30%
[/td][td]
20–50%
[/td]
[td]
40–70%
[/td][td]
15–35%
[/td][td]
10–30%
[/td]
[td]
30–60%
[/td][td]
15–35%
[/td][td]
20–40%
[/td]
[td]
20–50%
[/td][td]
20–40%
[/td][td]
20–50%
[/td]
[td]
20–50%
[/td][td]
20–40%
[/td][td]
20–50%
[/td]
[td]
20–50%
[/td][td]
20–40%
[/td][td]
10–40%
[/td]
Thức ăn tự nhiên
[/th][th]
Thức ăn chế biến / tự phối trộn
[/th][th]
Thức ăn công nghiệp
[/th]
[td]
70–90%
[/td][td]
10–30%
[/td][td]
0–10%
[/td]
[td]
30–60%
[/td][td]
10–30%
[/td][td]
20–50%
[/td]
[td]
40–70%
[/td][td]
15–35%
[/td][td]
10–30%
[/td]
[td]
30–60%
[/td][td]
15–35%
[/td][td]
20–40%
[/td]
[td]
20–50%
[/td][td]
20–40%
[/td][td]
20–50%
[/td]
[td]
20–50%
[/td][td]
20–40%
[/td][td]
20–50%
[/td]
[td]
20–50%
[/td][td]
20–40%
[/td][td]
10–40%
[/td]
Lưu ý quan trọng
Các con số trên không có nghĩa rằng phải cho ăn đủ 100% theo ba nhóm thức ăn mỗi ngày.Đây là cơ cấu định hướng của nguồn dinh dưỡng có thể khai thác, cần được cán bộ kỹ thuật xác định lại bằng quan sát thực tế, sinh khối, mức tiêu thụ và kết quả tăng trưởng.
Đặc biệt, nếu hệ sinh thái cung cấp thức ăn tự nhiên tốt thì nhu cầu bổ sung thức ăn mua ngoài có thể giảm.
Ngược lại, khi thức ăn tự nhiên suy giảm, người nuôi phải chủ động bổ sung, không nên cố giữ một tỷ lệ “ít thức ăn công nghiệp” nếu điều đó làm ảnh hưởng đến đàn nuôi.
V. KHÔNG NÊN ÁP DỤNG MỘT TỶ LỆ CHO TẤT CẢ CÁC LOÀI.
Bốn nhóm loài chủ lực của SM4AT có vai trò sinh thái và nhu cầu thức ăn khác nhau.Do đó, tỷ lệ thức ăn phải được điều chỉnh theo từng nhóm.
1. ỐC ĐẮNG – NHÓM NỀN SINH THÁI.
Ốc Đắng được xem là một trong những đối tượng có vai trò quan trọng trong tầng đáy và chuỗi thức ăn tự nhiên của SM4AT.Vai trò chính:
- Khai thác biofilm.
- Khai thác nguồn thức ăn tự nhiên phù hợp.
- Tham gia chuyển hóa vật chất hữu cơ.
- Tạo sinh khối động vật trong hệ sinh thái.
- Có thể trở thành nguồn đạm sinh học cho chuỗi sản xuất.
Thức ăn bổ sung chỉ nên sử dụng khi:
- Nguồn thức ăn tự nhiên không đủ.
- Giai đoạn giống cần dinh dưỡng cao hơn.
- Cần hỗ trợ tăng trưởng.
- Cần quản lý sinh khối theo mục tiêu sản xuất.
VI. TÉP ĐỒNG – NHÓM TẠO DÒNG TIỀN NHANH.
Tép Đồng có vai trò vừa khai thác các tầng thức ăn nhỏ trong hệ sinh thái, vừa tạo sản phẩm có khả năng quay vòng tương đối nhanh.Với Tép Đồng, cần chú ý đặc biệt đến:
- Kích thước con giống.
- Mật độ.
- Nguồn thức ăn tự nhiên.
- Chất lượng nước.
- Khả năng cạnh tranh thức ăn.
- Giai đoạn tăng trưởng.
Khi mật độ hoặc sinh khối tăng, thức ăn chế biến và thức ăn công nghiệp có thể được sử dụng để bổ sung, đặc biệt khi cần duy trì tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống.
VII. CÁ RÔ PHI – NHÓM TĂNG TRƯỞNG VÀ TẠO SẢN LƯỢNG.
Cá Rô Phi là đối tượng có khả năng thích nghi tốt và có vai trò quan trọng trong tư duy sản xuất của BQV Fresh.Cá Rô Phi có thể tận dụng nhiều nguồn thức ăn trong hệ thống, nhưng khi mục tiêu chuyển sang:
- Tăng trưởng nhanh.
- Nuôi mật độ cao.
- Đồng đều kích thước.
- Rút ngắn thời gian nuôi.
- Hoàn thiện chất lượng thương phẩm.
Do đó, không nên hiểu SM4AT là nuôi Rô Phi mà không được sử dụng thức ăn công nghiệp.
Ngược lại, cần tính toán:
Nguồn thức ăn tự nhiên đóng góp bao nhiêu – thức ăn chế biến đóng góp bao nhiêu – thức ăn công nghiệp cần bổ sung bao nhiêu để đạt hiệu quả tốt nhất?
VIII. CUA ĐỒNG – NHÓM KHAI THÁC TẦNG ĐÁY VÀ TẠO GIÁ TRỊ.
Cua Đồng có vai trò khai thác nguồn thức ăn ở tầng đáy và các nguồn sinh vật phù hợp trong hệ thống.Đối với Cua Đồng, cần chú ý:
- Nguồn thức ăn tự nhiên.
- Sinh vật đáy.
- Nguồn đạm bổ sung.
- Tập tính ăn.
- Mật độ.
- Nơi trú ẩn.
- Khả năng cạnh tranh và ăn lẫn nhau.
IX. TỪ BỐN LOÀI ĐẾN MỘT CHUỖI THỨC ĂN.
Điểm quan trọng của SM4AT không phải là mỗi loài được cho ăn một cách độc lập.Mục tiêu là hình thành chuỗi chuyển hóa vật chất và thức ăn nhiều tầng.
Có thể hình dung:
Nguồn hữu cơ → Vi sinh → Biofilm → Phiêu sinh / sinh vật nhỏ → Ốc, Tép, Cua → Cá Rô Phi → Sản phẩm thương phẩm
Trong chuỗi này, một phần vật chất có thể được tái sử dụng qua nhiều tầng, thay vì đưa toàn bộ nguồn thức ăn từ bên ngoài vào rồi chỉ thu được một sản phẩm cuối cùng.
Tuy nhiên, đây là chuỗi hỗ trợ, không có nghĩa tất cả thức ăn của bốn nhóm loài đều phải được tạo hoàn toàn trong ao.
Khi chuỗi tự nhiên không đáp ứng đủ, thức ăn chế biến và thức ăn công nghiệp phải được đưa vào đúng lúc.
X. TIÊU CHÍ AN TOÀN VÀ CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN.
Giảm chi phí không được đánh đổi bằng an toàn sinh học, an toàn thực phẩm hoặc chất lượng sản phẩm.Đây là nguyên tắc bắt buộc.
1. Đối với thức ăn tự nhiên
Cần bảo đảm:- Không lấy từ vùng nước ô nhiễm.
- Không lấy từ khu vực có nguy cơ thuốc bảo vệ thực vật.
- Không sử dụng nguồn có dấu hiệu nhiễm hóa chất.
- Không đưa sinh vật hoặc vật liệu không rõ nguồn gốc vào ao.
- Không để thức ăn tự nhiên phát triển quá mức gây mất cân bằng nước.
2. Đối với nguyên liệu chế biến.
Nguyên liệu phải:- Không ôi thiu.
- Không mốc.
- Không có mùi bất thường.
- Không nhiễm hóa chất.
- Không chứa tạp chất nguy hiểm.
- Được bảo quản đúng cách.
- Có nguồn gốc tương đối rõ ràng.
- Được xử lý phù hợp trước khi sử dụng.
3. Đối với thức ăn công nghiệp.
Nên ưu tiên sản phẩm:- Có nguồn gốc rõ ràng.
- Có thông tin nhà sản xuất.
- Có hướng dẫn sử dụng.
- Phù hợp với loài nuôi.
- Phù hợp với kích thước và giai đoạn nuôi.
- Bao bì nguyên vẹn.
- Không quá hạn.
- Không có dấu hiệu ẩm mốc hoặc biến chất.
- Được bảo quản đúng điều kiện.
XI. AN TOÀN KHÔNG CHỈ NẰM Ở BẢN THÂN THỨC ĂN.
Cán bộ điều phối và người áp dụng cần hiểu rằng thức ăn tốt nhưng cho ăn sai cách vẫn có thể làm hệ thống mất an toàn.Cần theo dõi:
Lượng cho ăn.
Thời điểm cho ăn.
Khả năng tiêu thụ.
Thức ăn dư thừa.
Mùi nước.
Màu nước.
Oxy hòa tan nếu có điều kiện đo.
Sinh khối thủy sản.
Tốc độ tăng trưởng.
Nếu thức ăn dư thừa thường xuyên, cần xem lại khẩu phần và mật độ.
Nguyên tắc:
Không phải cho ăn càng nhiều thì thủy sản càng lớn nhanh; mà phải cho ăn vừa đủ để đạt hiệu quả cao nhất với rủi ro thấp nhất.
XII. TRƯỜNG HỢP NUÔI KHÔNG BÙN ĐÁY.
Trong một số phương án sản xuất, đặc biệt khi hướng tới chất lượng thương phẩm và kiểm soát mùi, người nuôi có thể lựa chọn môi trường ít bùn hoặc không bùn đáy.Khi đó, việc quản lý thức ăn càng trở nên quan trọng.
Nguồn thức ăn không phù hợp hoặc cho ăn dư thừa có thể làm tăng chất hữu cơ và ảnh hưởng đến chất lượng nước.
Trong trường hợp này, thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn chế biến có kiểm soát thành phần và khẩu phần có thể mang lại lợi thế về tính chủ động.
Do đó, không nên hiểu:
“Dùng thức ăn công nghiệp là trái với tư duy sinh thái.”
Mà cần hiểu:
“Thức ăn công nghiệp có thể trở thành một công cụ để kiểm soát sản xuất nếu được lựa chọn và sử dụng đúng mục đích.”
XIII. “CÔNG NGHỆ VỪA ĐỦ” TRONG SỬ DỤNG THỨC ĂN
Tư duy Công nghệ vừa đủ của BQV Fresh không có nghĩa là từ chối công nghệ hiện đại.Nếu một loại thức ăn công nghiệp có khả năng:
- Giảm thời gian nuôi.
- Tăng tỷ lệ sống.
- Cải thiện chất lượng thương phẩm.
- Giảm lượng thức ăn phải sử dụng.
- Dễ kiểm soát khẩu phần.
- Giảm công lao động.
Điều cần tránh là sử dụng công nghệ hoặc đầu vào đắt tiền khi cùng một mục tiêu có thể đạt được bằng phương án đơn giản và rẻ hơn mà vẫn bảo đảm an toàn.
XIV. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KHÔNG PHẢI LÀ “DÙNG ÍT HAY NHIỀU”.
Khi đánh giá một hộ hoặc một mô hình SM4AT, cán bộ điều phối không nên chỉ hỏi:“Hộ này dùng bao nhiêu thức ăn công nghiệp?”
Mà nên đánh giá đồng thời:
- Chi phí thức ăn trên một đơn vị sản phẩm.
- Tỷ lệ sống.
- Tốc độ tăng trưởng.
- Thời gian nuôi.
- Chất lượng thương phẩm.
- Chất lượng nước.
- Mức độ ổn định của hệ sinh thái.
- Công lao động.
- Tổng chi phí sản xuất.
- Doanh thu và lợi nhuận thực tế.
- Mức độ rủi ro.
- Khả năng duy trì sản xuất của hộ.
Ngược lại, một phương án dùng rất ít thức ăn công nghiệp nhưng làm tăng hao hụt hoặc kéo dài thời gian nuôi thì không nhất thiết là phương án tối ưu.
XV. NGUYÊN TẮC “NỘI LỰC TRƯỚC – NGOẠI LỰC ĐÚNG LÚC”.
Chủ trương của BQV Fresh có thể được cô đọng thành:NỘI LỰC TRƯỚC – NGOẠI LỰC BỔ SUNG – HIỆU QUẢ LÀ TIÊU CHÍ QUYẾT ĐỊNH.
Trong đó:
Thức ăn tự nhiên là nguồn lực sinh thái cần phát huy.
Thức ăn chế biến là phương án tận dụng nguyên liệu và lao động tại chỗ.
Thức ăn công nghiệp là nguồn lực bên ngoài được sử dụng khi cần sự chủ động và khi hiệu quả của nó tương xứng với chi phí.
Không có nhóm nào bị loại bỏ một cách máy móc.
XVI. KẾT LUẬN – TUYÊN BỐ ĐÍNH CHÍNH.
BQV Fresh xin chính thức đính chính và thống nhất cách hiểu trong triển khai SM4AT:SM4AT KHÔNG CẤM THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP.
SM4AT KHÔNG PHẢN ĐỐI THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP.
Chủ trương của BQV Fresh là:SM4AT CHỈ KHÔNG KHUYẾN KHÍCH SỰ PHỤ THUỘC KHÔNG CẦN THIẾT VÀO THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP.
Tận dụng thức ăn tự nhiên khi hệ sinh thái có khả năng cung cấp; tận dụng nguyên liệu địa phương để chế biến thức ăn khi phù hợp; sử dụng thức ăn công nghiệp khi cần thiết; và luôn lựa chọn phương án có hiệu quả tổng thể tốt hơn về chi phí, chất lượng, an toàn và rủi ro.
Vì vậy:
SM4AT KHÔNG CHỦ TRƯƠNG “CẮT THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP BẰNG MỌI GIÁ”.
SM4AT CHỦ TRƯƠNG “TỐI ƯU CHI PHÍ THỨC ĂN BẰNG CÁCH KẾT HỢP HỢP LÝ CÁC NGUỒN LỰC”.
Đây là cách tiếp cận phù hợp với đối tượng cộng đồng ít nguồn lực, đồng thời phù hợp với tư duy Công nghệ vừa đủ – Phát huy nội lực – Nuôi nước trước, nuôi con sau – Resilience By Design của BQV Fresh.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, nguồn nước và chi phí đầu vào ngày càng khó dự đoán, hệ thống sản xuất càng cần khả năng chuyển đổi linh hoạt giữa các nguồn thức ăn.
Vì vậy, mục tiêu cuối cùng không phải là chứng minh rằng “ai dùng ít thức ăn công nghiệp hơn”, mà là xây dựng được phương án:
BQV Fresh mong muốn cán bộ điều phối, Hợp Tác Xã và nông hộ cùng thống nhất cách hiểu này để khi triển khai SM4AT tại cộng đồng, mọi quyết định về thức ăn đều được đưa ra trên cơ sở thực tế, số liệu, điều kiện nguồn lực và tính khả thi chấp nhận được, thay vì dựa trên một quy định cứng nhắc về việc “được” hay “không được” sử dụng thức ăn công nghiệp.Chi phí hợp lý – Sản phẩm an toàn – Chất lượng ổn định – Hệ sinh thái bền vững – Rủi ro có thể kiểm soát – Sinh kế có khả năng duy trì.
Last edited: